Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh doanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh doanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 12, 2010

Lập nghiệp sớm -Bài học xương máu

0 nhận xét
Nhân đọc bài “Nhiều bạn trẻ mở công ty riêng: Hiện tượng hay xu hướng mới?” của anh Lê Minh Đức, tôi muốn chia sẻ một vài thông tin từ chính kinh nghiệm xương máu về lập nghiệp sớm của mình.


Bài học đầu tiên
Tôi là Bình Minh, sinh năm 1977. Năm 1999, tôi tốt nghiệp khoa quản trị kinh doanh – ĐH Kinh tế TP.HCM. Như nhiều bạn bè của mình hồi đó, lúc còn đi học cũng làm thêm nhiều công việc khác nhau, để vừa kiếm tiền, vừa tích lũy kinh nghiệm; và cũng như nhiều bạn trẻ đồng trang lứa, tôi đã từng nghĩ mình tốt nghiệp ĐH chính quy, ngành đang “hot”, với bằng khá trên tay, mình là “thứ ghê gớm” lắm, mọi thứ sẽ như được trải thảm cho mình. Dường như khởi đầu khá hoàn hảo, vì ngay sau khi tốt nghiệp, tôi đã được nhận vào một công ty khá lớn ở TP.HCM, với vị trí nhân viên kinh doanh.
Tôi tâm nguyện phải nỗ lực để nhanh chóng vươn lên vị trí cao hơn. Nhưng trong suốt hơn 2 năm làm việc ở đây, tất cả chỉ dừng lại ở vị trí Sale Executive, cái chức danh trên danh thiếp mà tôi chắc chắn là hầu hết đều không thích! Thấy không thay đổi được gì, tôi đã thẳng thắn với Sếp:

Lựa chọn 1: Tăng lương, tăng chức vụ.
Lựa chọn 2: Ra đi.

Sếp nói hãy chờ đợi. Thêm vài tháng nữa trôi qua, không có gì thay đổi. Tôi đành chọn phương án 2.

Bài học 1: Nhiều người trẻ cứ cho rằng bằng đại học chính quy là ưu thế lớn, rồi tham vọng muốn làm quản lý sớm. Mọi thứ không hề đơn giản như vậy!


Bài học thứ hai
Sau đó, tôi cũng tìm được công việc có lương cao hơn (dù không nhiều), với chức vụ giám sát, nhưng quy mô công ty nhỏ. Thấy tiềm năng phát triển thấp, sau 6 tháng, tôi lại trằn trọc băn khoăn nhiều. Thêm nhiều tháng nữa trôi qua, sự cố gắng của tôi cuối cùng giúp tôi gom góp được “số dư tài khoản” cũng chỉ 12 triệu đồng (thời điểm năm 2003).

Nghe nhiều người bàn, lại thấy có bạn đã ra làm riêng, sau khi suy nghĩ kỹ, tôi mạnh dạn mở công ty, hoạt động dịch vụ in ấn quảng cáo và thiết kế web. Vốn mỏng như vậy, nên chỉ thuê một mặt bằng khiêm tốn trong con hẻm ở đường Thành Thái (quận 10) cọc 2 tháng và thanh toán trước 1 tháng, xem như tôi gần hết vốn. Vậy nên, công ty TNHH 1 thành viên của tôi có tổng cộng… 1 nhân viên. Đó là chính tôi! Dù vậy, nhờ chịu khó “cày ải”, nên cũng đủ sống qua ngày.

Những chỉ sau 1 năm, gặp quá nhiều khó khăn, nhất là vì ngày càng nhiều công ty dịch vụ như tôi mở ra; lại thêm việc thiếu vốn để tuyển người có năng lực, phải thuê lại các đơn vị cá nhân khác làm, nên càng khó cạnh tranh. Khó khăn, chán nản, thất vọng… Tôi muốn giải thể. Nhưng sau nhiều đêm thức trắng, tôi có một quyết định khác: Không có vốn, thì đi làm thuê để kiếm vốn, tiếp tục duy trì công ty.

Bài học 2: Không bao giờ để khó khăn và chán nản chiến thắng mình!

Bài học thứ ba
Sau thời gian đi làm thuê trở lại (từ cuối năm 2004 đến tháng 6 năm 2008), tôi đã tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm, cùng với một số vốn tương đối: 90 triệu đồng. Tuy có thể nói là thấp trong bối cảnh hiện nay, nhưng cũng đủ cho tôi tuyển thêm nhân viên, trang trải các chi phí cơ bản và phát triển công ty nhỏ bé của mình. Sau 18 tháng hoạt động trở lại, tôi tập trung vào lĩnh vực chuyên môn của mình, đồng thời đăng ký bổ sung ngành nghề đại lý, môi giới, nhận được thêm nhiều hợp đồng “tay trái”, nên tính đến nay cũng đã thấy cuộc sống dễ chịu hơn, và đang có những bước đi mới nhằm nâng tầm doanh nghiệp mình.

Một bí mật cho thành công khiêm tốn đến nay của mình: Dù mới quay lại công ty riêng được hơn 1 năm, nhưng hồ sơ năng lực ghi nhận công ty tôi đã hoạt động trên 6 năm, khiến nhiều khách hàng tin tưởng hơn. Vì trong suốt những năm làm thuê vừa qua, tôi vẫn duy trì, báo cáo thuế đầy đủ cho công ty của mình.

Bài học 3: Lập nghiệp khi còn trẻ, chỉ có “được” chứ không “mất”.

Thực lòng, lập nghiệp lúc còn trẻ, tôi thấy dù khó khăn thế nào, mình chỉ có lợi thôi. Vì giả sử, ngay cả khi tôi chưa thành công, thậm chí buộc phải giải thể, thì tôi cũng có thể quay lại làm thuê, với kinh nghiệm, nặng lực, ý chí và quyết tâm hơn trước. Vậy thì cả bản thân cũng như doanh nghiệp cũng đều có lợi.

“Mọi sự so sánh đều khập khiễng”, và “ai cũng làm chủ, lấy ai làm thuê”. Quan điểm này càng “đúng” và càng được hưởng ứng nếu bạn đang là chủ một doanh nghiệp, hoặc bạn không thể lập nghiệp riêng được. Tuy nhiên, sự thực lại khác, vì hầu hết chúng ta đều thích làm chủ, nhưng vì nhiều lý do, nhiều người trong chúng ta không hoặc chưa làm vậy. Chấp nhận làm thuê cũng đâu có gì là không tốt. Hàng năm có đến hàng triệu bạn trẻ tham gia vào thị trường lao động, tìm được việc làm đã khó, nói gì chuyện làm chủ. Vậy nên, nếu bạn đủ khả năng làm chủ, thì không bao giờ lo thiếu người làm thuê. Hãy nhìn sang các nước phát triển để thấy rõ: Tỷ lệ số doanh nghiệp trên số dân là rất cao, trong khi ở VN đang ở mức rất thấp. Các nhiều doanh nghiệp, càng có lợi cho cho nền kinh tế - xã hội. Nếu không, Nhà nước đã không khuyến khích thành lập nhiều doanh nghiệp.

Lập nghiệp sớm -Bài học xương máu

0 nhận xét
Nhân đọc bài “Nhiều bạn trẻ mở công ty riêng: Hiện tượng hay xu hướng mới?” của anh Lê Minh Đức, tôi muốn chia sẻ một vài thông tin từ chính kinh nghiệm xương máu về lập nghiệp sớm của mình.


Bài học đầu tiên
Tôi là Bình Minh, sinh năm 1977. Năm 1999, tôi tốt nghiệp khoa quản trị kinh doanh – ĐH Kinh tế TP.HCM. Như nhiều bạn bè của mình hồi đó, lúc còn đi học cũng làm thêm nhiều công việc khác nhau, để vừa kiếm tiền, vừa tích lũy kinh nghiệm; và cũng như nhiều bạn trẻ đồng trang lứa, tôi đã từng nghĩ mình tốt nghiệp ĐH chính quy, ngành đang “hot”, với bằng khá trên tay, mình là “thứ ghê gớm” lắm, mọi thứ sẽ như được trải thảm cho mình. Dường như khởi đầu khá hoàn hảo, vì ngay sau khi tốt nghiệp, tôi đã được nhận vào một công ty khá lớn ở TP.HCM, với vị trí nhân viên kinh doanh.
Tôi tâm nguyện phải nỗ lực để nhanh chóng vươn lên vị trí cao hơn. Nhưng trong suốt hơn 2 năm làm việc ở đây, tất cả chỉ dừng lại ở vị trí Sale Executive, cái chức danh trên danh thiếp mà tôi chắc chắn là hầu hết đều không thích! Thấy không thay đổi được gì, tôi đã thẳng thắn với Sếp:

Lựa chọn 1: Tăng lương, tăng chức vụ.
Lựa chọn 2: Ra đi.

Sếp nói hãy chờ đợi. Thêm vài tháng nữa trôi qua, không có gì thay đổi. Tôi đành chọn phương án 2.

Bài học 1: Nhiều người trẻ cứ cho rằng bằng đại học chính quy là ưu thế lớn, rồi tham vọng muốn làm quản lý sớm. Mọi thứ không hề đơn giản như vậy!


Bài học thứ hai
Sau đó, tôi cũng tìm được công việc có lương cao hơn (dù không nhiều), với chức vụ giám sát, nhưng quy mô công ty nhỏ. Thấy tiềm năng phát triển thấp, sau 6 tháng, tôi lại trằn trọc băn khoăn nhiều. Thêm nhiều tháng nữa trôi qua, sự cố gắng của tôi cuối cùng giúp tôi gom góp được “số dư tài khoản” cũng chỉ 12 triệu đồng (thời điểm năm 2003).

Nghe nhiều người bàn, lại thấy có bạn đã ra làm riêng, sau khi suy nghĩ kỹ, tôi mạnh dạn mở công ty, hoạt động dịch vụ in ấn quảng cáo và thiết kế web. Vốn mỏng như vậy, nên chỉ thuê một mặt bằng khiêm tốn trong con hẻm ở đường Thành Thái (quận 10) cọc 2 tháng và thanh toán trước 1 tháng, xem như tôi gần hết vốn. Vậy nên, công ty TNHH 1 thành viên của tôi có tổng cộng… 1 nhân viên. Đó là chính tôi! Dù vậy, nhờ chịu khó “cày ải”, nên cũng đủ sống qua ngày.

Những chỉ sau 1 năm, gặp quá nhiều khó khăn, nhất là vì ngày càng nhiều công ty dịch vụ như tôi mở ra; lại thêm việc thiếu vốn để tuyển người có năng lực, phải thuê lại các đơn vị cá nhân khác làm, nên càng khó cạnh tranh. Khó khăn, chán nản, thất vọng… Tôi muốn giải thể. Nhưng sau nhiều đêm thức trắng, tôi có một quyết định khác: Không có vốn, thì đi làm thuê để kiếm vốn, tiếp tục duy trì công ty.

Bài học 2: Không bao giờ để khó khăn và chán nản chiến thắng mình!

Bài học thứ ba
Sau thời gian đi làm thuê trở lại (từ cuối năm 2004 đến tháng 6 năm 2008), tôi đã tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm, cùng với một số vốn tương đối: 90 triệu đồng. Tuy có thể nói là thấp trong bối cảnh hiện nay, nhưng cũng đủ cho tôi tuyển thêm nhân viên, trang trải các chi phí cơ bản và phát triển công ty nhỏ bé của mình. Sau 18 tháng hoạt động trở lại, tôi tập trung vào lĩnh vực chuyên môn của mình, đồng thời đăng ký bổ sung ngành nghề đại lý, môi giới, nhận được thêm nhiều hợp đồng “tay trái”, nên tính đến nay cũng đã thấy cuộc sống dễ chịu hơn, và đang có những bước đi mới nhằm nâng tầm doanh nghiệp mình.

Một bí mật cho thành công khiêm tốn đến nay của mình: Dù mới quay lại công ty riêng được hơn 1 năm, nhưng hồ sơ năng lực ghi nhận công ty tôi đã hoạt động trên 6 năm, khiến nhiều khách hàng tin tưởng hơn. Vì trong suốt những năm làm thuê vừa qua, tôi vẫn duy trì, báo cáo thuế đầy đủ cho công ty của mình.

Bài học 3: Lập nghiệp khi còn trẻ, chỉ có “được” chứ không “mất”.

Thực lòng, lập nghiệp lúc còn trẻ, tôi thấy dù khó khăn thế nào, mình chỉ có lợi thôi. Vì giả sử, ngay cả khi tôi chưa thành công, thậm chí buộc phải giải thể, thì tôi cũng có thể quay lại làm thuê, với kinh nghiệm, nặng lực, ý chí và quyết tâm hơn trước. Vậy thì cả bản thân cũng như doanh nghiệp cũng đều có lợi.

“Mọi sự so sánh đều khập khiễng”, và “ai cũng làm chủ, lấy ai làm thuê”. Quan điểm này càng “đúng” và càng được hưởng ứng nếu bạn đang là chủ một doanh nghiệp, hoặc bạn không thể lập nghiệp riêng được. Tuy nhiên, sự thực lại khác, vì hầu hết chúng ta đều thích làm chủ, nhưng vì nhiều lý do, nhiều người trong chúng ta không hoặc chưa làm vậy. Chấp nhận làm thuê cũng đâu có gì là không tốt. Hàng năm có đến hàng triệu bạn trẻ tham gia vào thị trường lao động, tìm được việc làm đã khó, nói gì chuyện làm chủ. Vậy nên, nếu bạn đủ khả năng làm chủ, thì không bao giờ lo thiếu người làm thuê. Hãy nhìn sang các nước phát triển để thấy rõ: Tỷ lệ số doanh nghiệp trên số dân là rất cao, trong khi ở VN đang ở mức rất thấp. Các nhiều doanh nghiệp, càng có lợi cho cho nền kinh tế - xã hội. Nếu không, Nhà nước đã không khuyến khích thành lập nhiều doanh nghiệp.

Kinh nghiệm và bài học thứ nhất... đi làm thuê…

0 nhận xét
Tay lạnh cóng, không lò sưởi, tôi vuốt lại mấy cái áo bày ở trên giá, đấy là mùa đông không về VN đầu tiên tôi xin đi làm thuê cho một cửa hàng bán quần áo rất to ngoài chợ. Tất nhiên, ngoài tôi ra còn có rất nhiều người làm như tôi ở đây. Cửa hàng to nên làm việc rất vất vả nhưng bù lại tầm quan sát của tôi sẽ tốt hơn nhiều. Ngoài tôi ra thì hầu hết mọi người đều về nhà chủ cửa hàng ngủ và sinh hoạt ở đó. Cũng cố gắng chăm chỉ như mọi người nhưng đôi lúc cái làn da mỏng tang như giấy quen được ủ ấm trong chăn êm, đệm ấm vẫn mang xu hướng lười biếng một chút.

Tôi bắt đầu từ 13 giờ muộn hơn những người khác 5 - 6  tiếng và kết thúc lúc 6 giờ sớm hơn những người khác 2 – 3 tiếng. Thật chẳng thành công lắm cho 1 cô bé đi làm thuê lười biếng như tôi, nhưng bù lại là sự nhanh nhẹn, sự tự tin nhanh nhậy với  khuôn mặt ưa nhìn nên cũng dễ dàng trong việc mua đi bán lại. Và cũng chính vì vậy nên bà chủ mới nhận làm nửa ngày như thế, và giao những công việc cao hơn như nhận hàng, phân chia hàng do tôi đảm nhận là phần nhiều.

winter.jpgTôi không dám tỷ mỉ kể lại những khó khăn mình trải qua, vì như thế thật xấu hổ với những người cùng làm ở đó còn khó khăn hơn tôi. Họ còn bị chửi nặng nề rất nhiều. Nhưng chỉ biết rằng chân tay thì luôn hoạt động không ngừng nghỉ, và đừng nghĩ tới việc ngồi trong suốt cả ngày làm việc, trong khi đó cái lạnh đã làm tôi nhớ đến bây giờ,… Ban ngày cũng âm độ, và ban đêm thì thật kinh khủng. Tay chân cũng nhiều vết chai hơn, ngoài cái vết chai ở ngón giữa cầm bút thì còn nhiều chỗ khác nữa rồi, làn da thì cũng dày lên phần nào….nhưng kinh nghiệm để mở to mắt nhìn cuộc sống không qua lăng kính màu hồng thì đi theo suốt cuộc đời này để có chuyện còn kể nữa chứ.

Lần này cũng không là lần thành công cho chính bản thân tôi khi một sự cố xảy ra, đó là một số tiền nhỏ bị mất và thật xui xẻo khi tôi lại là người nhận và phân chia hàng. Chỗ bị mất tiền tôi qua lại nhiều nhất. Mọi nghi ngờ đổ dồn lên tôi….mọi người phân tích cũng thật chí lý:

"Đi làm thuê thì tiền đâu ra mà cái phong cách khoác trên người khác hẳn những người làm thuê. Mặc thì đồ hiệu, đồng hồ, đồ trang sức, điện thoại mọi thứ đều original"…v…v…

Lúc đó mặt tôi nóng ran như tan chảy hết những ụ tuyết cao như núi ngoài kia để muốn xé vụn cái số tiền công tủi nhục kia khi bà chủ ném trước mặt tôi với câu mỉa mai:

 “Nếu lấy thì mày cứ bỏ ra, chứ số tiền đấy cũng chẳng là gì với tao “.

Với một vết roi in trên da con ngựa hoang bất trị như tôi thì niềm kiêu hãnh bây giờ là trên hết.... Tôi đứng dậy, phủi mông bước ra ngoài khi kịp quay lại nói một câu cũng đầy hàm ý:

“Một nửa coi như bù vào số tiền cô bị mất, còn nửa kia là lãi để trả cho sự ăn cắp, ăn trộm mà cô nói. Số tiền đấy đối với cháu cũng chẳng là gì…”

Chân bước nhanh ra khỏi cửa trong sự ngỡ ngàng và kinh ngạc của mọi người. Ngoài trời tuyết rơi từng hạt to, nước mắt tôi như đóng băng trên khóe mắt, nhưng chắc cũng tại không kìm được nên cứ thế chảy như trôi đi mọi tiếng gọi của mọi người đằng sau mình….8:08 PM trên đồng hồ mờ mờ... tôi nhớ nhà, nhớ bố mẹ.....nhớ.....

Nhưng lần đó tôi đã sai rồi, vì với hành động như vậy thì cái mác tiểu thư trong sự sung sướng chưa thực sự bị xóa trên khuôn mặt của mình đã mang nó bao năm…  Người mất thì có quyền nghi ngờ... còn tôi không lấy thì phải giải thích và bình tĩnh trong trường hợp đó để phân tích mọi vấn đề… nhưng không! Tôi đã sai…
Theo saga

Kinh nghiệm và bài học thứ nhất... đi làm thuê…

0 nhận xét
Tay lạnh cóng, không lò sưởi, tôi vuốt lại mấy cái áo bày ở trên giá, đấy là mùa đông không về VN đầu tiên tôi xin đi làm thuê cho một cửa hàng bán quần áo rất to ngoài chợ. Tất nhiên, ngoài tôi ra còn có rất nhiều người làm như tôi ở đây. Cửa hàng to nên làm việc rất vất vả nhưng bù lại tầm quan sát của tôi sẽ tốt hơn nhiều. Ngoài tôi ra thì hầu hết mọi người đều về nhà chủ cửa hàng ngủ và sinh hoạt ở đó. Cũng cố gắng chăm chỉ như mọi người nhưng đôi lúc cái làn da mỏng tang như giấy quen được ủ ấm trong chăn êm, đệm ấm vẫn mang xu hướng lười biếng một chút.

Tôi bắt đầu từ 13 giờ muộn hơn những người khác 5 - 6  tiếng và kết thúc lúc 6 giờ sớm hơn những người khác 2 – 3 tiếng. Thật chẳng thành công lắm cho 1 cô bé đi làm thuê lười biếng như tôi, nhưng bù lại là sự nhanh nhẹn, sự tự tin nhanh nhậy với  khuôn mặt ưa nhìn nên cũng dễ dàng trong việc mua đi bán lại. Và cũng chính vì vậy nên bà chủ mới nhận làm nửa ngày như thế, và giao những công việc cao hơn như nhận hàng, phân chia hàng do tôi đảm nhận là phần nhiều.

winter.jpgTôi không dám tỷ mỉ kể lại những khó khăn mình trải qua, vì như thế thật xấu hổ với những người cùng làm ở đó còn khó khăn hơn tôi. Họ còn bị chửi nặng nề rất nhiều. Nhưng chỉ biết rằng chân tay thì luôn hoạt động không ngừng nghỉ, và đừng nghĩ tới việc ngồi trong suốt cả ngày làm việc, trong khi đó cái lạnh đã làm tôi nhớ đến bây giờ,… Ban ngày cũng âm độ, và ban đêm thì thật kinh khủng. Tay chân cũng nhiều vết chai hơn, ngoài cái vết chai ở ngón giữa cầm bút thì còn nhiều chỗ khác nữa rồi, làn da thì cũng dày lên phần nào….nhưng kinh nghiệm để mở to mắt nhìn cuộc sống không qua lăng kính màu hồng thì đi theo suốt cuộc đời này để có chuyện còn kể nữa chứ.

Lần này cũng không là lần thành công cho chính bản thân tôi khi một sự cố xảy ra, đó là một số tiền nhỏ bị mất và thật xui xẻo khi tôi lại là người nhận và phân chia hàng. Chỗ bị mất tiền tôi qua lại nhiều nhất. Mọi nghi ngờ đổ dồn lên tôi….mọi người phân tích cũng thật chí lý:

"Đi làm thuê thì tiền đâu ra mà cái phong cách khoác trên người khác hẳn những người làm thuê. Mặc thì đồ hiệu, đồng hồ, đồ trang sức, điện thoại mọi thứ đều original"…v…v…

Lúc đó mặt tôi nóng ran như tan chảy hết những ụ tuyết cao như núi ngoài kia để muốn xé vụn cái số tiền công tủi nhục kia khi bà chủ ném trước mặt tôi với câu mỉa mai:

 “Nếu lấy thì mày cứ bỏ ra, chứ số tiền đấy cũng chẳng là gì với tao “.

Với một vết roi in trên da con ngựa hoang bất trị như tôi thì niềm kiêu hãnh bây giờ là trên hết.... Tôi đứng dậy, phủi mông bước ra ngoài khi kịp quay lại nói một câu cũng đầy hàm ý:

“Một nửa coi như bù vào số tiền cô bị mất, còn nửa kia là lãi để trả cho sự ăn cắp, ăn trộm mà cô nói. Số tiền đấy đối với cháu cũng chẳng là gì…”

Chân bước nhanh ra khỏi cửa trong sự ngỡ ngàng và kinh ngạc của mọi người. Ngoài trời tuyết rơi từng hạt to, nước mắt tôi như đóng băng trên khóe mắt, nhưng chắc cũng tại không kìm được nên cứ thế chảy như trôi đi mọi tiếng gọi của mọi người đằng sau mình….8:08 PM trên đồng hồ mờ mờ... tôi nhớ nhà, nhớ bố mẹ.....nhớ.....

Nhưng lần đó tôi đã sai rồi, vì với hành động như vậy thì cái mác tiểu thư trong sự sung sướng chưa thực sự bị xóa trên khuôn mặt của mình đã mang nó bao năm…  Người mất thì có quyền nghi ngờ... còn tôi không lấy thì phải giải thích và bình tĩnh trong trường hợp đó để phân tích mọi vấn đề… nhưng không! Tôi đã sai…
Theo saga

Tư duy lại chiến lược nhân sự

0 nhận xét


Nhu cầu tuyển dụng đang phục hồi và lúc này là thời điểm để các doanh nghiệp (DN) củng cố lại đội ngũ nhân sự sau những xáo trộn do khủng hoảng kinh tế gây ra. Tuy nhiên, những xáo trộn này đặt ra vấn đề “tư duy lại chiến lược nhân sự” của nhiều DN.

Theo khảo sát của Navigos, nhu cầu tuyển nhân sự cấp cao tại các DN đã tăng mạnh trở lại, nhất là từ quý II và III của năm nay do tín hiệu lạc quan về kinh tế sẽ tăng trưởng cao hơn so với dự báo trước đây.

Trong đó, ngân hàng và các công ty tài chính có nhu cầu về nhân lực kế toán/tài chính cao nhất, chiếm 46% trong tổng số nhu cầu về nhân lực kế toán/tài chính.

Chính nhu cầu tuyển dụng tăng bộc lộ cơn khát nhân sự của DN. Sau khủng hoảng, các DN tại Việt Nam đang đối mặt với thiếu nguồn cung nhân lực chất lượng cho các vị trí điều hành. Đây là khó khăn nhiều năm qua DN trong nước đối mặt, nhưng những khó khăn kinh tế càng khiến khó khăn này lộ rõ.

Mặc dù khủng hoảng kinh tế cũng khiến tình trạng nhảy việc tràn lan cũng chững lại, giúp giảm bớt áp lực đối với các công ty vốn đã quen với việc nhân viên rời công ty vì chức vụ cao hơn và mức lương cao hơn 50% chỉ trong một thời gian ngắn.

Nhưng sau khủng hoảng, tư duy chỉ dựa vào bối cảnh kinh tế và lấy đó làm chiến lược giữ người không còn phù hợp.

Tư duy lại chính sách nhân sự là bài toán đang đặt ra hiện nay, phục vụ cho chiến lược phát triển bền vững của DN. Chính vì vậy, các DN cần có những chính sách phù hợp để có thể vừa giữ và thu hút được nhân tài, cũng như chú trọng đến đào tạo các nhân viên có tiềm năng cho các vị trí điều hành phù hợp sau này.

Đây là câu hỏi cho vấn đề về nhân sự và phát triển nhân sự trong và sau khủng hoảng kinh tế. Trong đó, lần đầu tiên vấn đề nhân sự thật sự được nhiều DN tại Việt Nam nhìn nhận như một động lực chính trong kinh doanh.

Bà Karen Davies, Giám đốc điều hành Công ty XAGE Consultant, cho biết, ngày nay, các tổ chức hiệu quả đã bắt đầu có một cái nhìn thực tế hơn với vấn đề quản lý rủi ro. Họ không chỉ tập trung vào những lĩnh vực thường được cho là “dễ bị đổ vỡ” hay “khó kiểm soát”, mà còn nhìn thấy cả những khía cạnh có khả năng ảnh hưởng lớn đến thành công của DN, chẳng hạn như các rủi ro về nhân sự.

Đó là những thách thức và cơ hội tiềm ẩn trong việc quản lý con người, chính sách, quy trình... bên trong và bên ngoài DN. Việc nắm bắt và chủ động giải quyết các vấn đề này sẽ giúp các nhà lãnh đạo DN có thể tạo ra những kết quả kinh doanh bền vững.

Ngược lại, nếu không quản lý tốt các rủi ro về nhân sự, khả năng xảy ra các thiệt hại về tài chính, uy tín sẽ luôn còn đó và gây trở ngại cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của cả tổ chức.

Chiến lược duy trì nguồn nhân sự không đơn thuần là đưa ra cách thức giữ người mà còn thể hiện ở việc quy hoạch, xây dựng cho DN một đội ngũ kế cận. Chiến lược này giúp cho DN phát triển được đội ngũ, bù đắp thiếu hụt khi mở rộng quy mô, giảm chi phí đầu tư hay hạn chế các rủi ro trong kinh doanh.

DN nhìn nhận vấn đề quản lý nhân sự cấp cao như một sự ưu tiên kinh doanh và các nhà quản lý cấp cao phải đầu tư những lượng lớn thời gian trong việc tạo ra các chiến lược nhằm thu hút, thúc đẩy và giữ được nhân tài và cần phải hiểu là nhân tài ở tất cả các mức độ.

Theo kinh nghiệm của mình, ông Tom Chong Yew Hoong, Đối tác - Cố vấn cấp cao Ernst & Young Vietnam, cho rằng, thông thường, một nhân viên chỉ làm việc hết 50% năng suất của mình.

Do đó, một trong những công việc của nhà quản lý là phải “khơi dậy” 50% năng suất tiềm tàng còn lại để có thể tạo ra những kết quả tốt hơn. Để làm được điều đó, việc tạo động lực và truyền cảm hứng cho nhân viên là hết sức quan trọng.
(Phương Trinh -
Theo Doanh nhân Sài Gòn)

Tư duy lại chiến lược nhân sự

0 nhận xét


Nhu cầu tuyển dụng đang phục hồi và lúc này là thời điểm để các doanh nghiệp (DN) củng cố lại đội ngũ nhân sự sau những xáo trộn do khủng hoảng kinh tế gây ra. Tuy nhiên, những xáo trộn này đặt ra vấn đề “tư duy lại chiến lược nhân sự” của nhiều DN.

Theo khảo sát của Navigos, nhu cầu tuyển nhân sự cấp cao tại các DN đã tăng mạnh trở lại, nhất là từ quý II và III của năm nay do tín hiệu lạc quan về kinh tế sẽ tăng trưởng cao hơn so với dự báo trước đây.

Trong đó, ngân hàng và các công ty tài chính có nhu cầu về nhân lực kế toán/tài chính cao nhất, chiếm 46% trong tổng số nhu cầu về nhân lực kế toán/tài chính.

Chính nhu cầu tuyển dụng tăng bộc lộ cơn khát nhân sự của DN. Sau khủng hoảng, các DN tại Việt Nam đang đối mặt với thiếu nguồn cung nhân lực chất lượng cho các vị trí điều hành. Đây là khó khăn nhiều năm qua DN trong nước đối mặt, nhưng những khó khăn kinh tế càng khiến khó khăn này lộ rõ.

Mặc dù khủng hoảng kinh tế cũng khiến tình trạng nhảy việc tràn lan cũng chững lại, giúp giảm bớt áp lực đối với các công ty vốn đã quen với việc nhân viên rời công ty vì chức vụ cao hơn và mức lương cao hơn 50% chỉ trong một thời gian ngắn.

Nhưng sau khủng hoảng, tư duy chỉ dựa vào bối cảnh kinh tế và lấy đó làm chiến lược giữ người không còn phù hợp.

Tư duy lại chính sách nhân sự là bài toán đang đặt ra hiện nay, phục vụ cho chiến lược phát triển bền vững của DN. Chính vì vậy, các DN cần có những chính sách phù hợp để có thể vừa giữ và thu hút được nhân tài, cũng như chú trọng đến đào tạo các nhân viên có tiềm năng cho các vị trí điều hành phù hợp sau này.

Đây là câu hỏi cho vấn đề về nhân sự và phát triển nhân sự trong và sau khủng hoảng kinh tế. Trong đó, lần đầu tiên vấn đề nhân sự thật sự được nhiều DN tại Việt Nam nhìn nhận như một động lực chính trong kinh doanh.

Bà Karen Davies, Giám đốc điều hành Công ty XAGE Consultant, cho biết, ngày nay, các tổ chức hiệu quả đã bắt đầu có một cái nhìn thực tế hơn với vấn đề quản lý rủi ro. Họ không chỉ tập trung vào những lĩnh vực thường được cho là “dễ bị đổ vỡ” hay “khó kiểm soát”, mà còn nhìn thấy cả những khía cạnh có khả năng ảnh hưởng lớn đến thành công của DN, chẳng hạn như các rủi ro về nhân sự.

Đó là những thách thức và cơ hội tiềm ẩn trong việc quản lý con người, chính sách, quy trình... bên trong và bên ngoài DN. Việc nắm bắt và chủ động giải quyết các vấn đề này sẽ giúp các nhà lãnh đạo DN có thể tạo ra những kết quả kinh doanh bền vững.

Ngược lại, nếu không quản lý tốt các rủi ro về nhân sự, khả năng xảy ra các thiệt hại về tài chính, uy tín sẽ luôn còn đó và gây trở ngại cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của cả tổ chức.

Chiến lược duy trì nguồn nhân sự không đơn thuần là đưa ra cách thức giữ người mà còn thể hiện ở việc quy hoạch, xây dựng cho DN một đội ngũ kế cận. Chiến lược này giúp cho DN phát triển được đội ngũ, bù đắp thiếu hụt khi mở rộng quy mô, giảm chi phí đầu tư hay hạn chế các rủi ro trong kinh doanh.

DN nhìn nhận vấn đề quản lý nhân sự cấp cao như một sự ưu tiên kinh doanh và các nhà quản lý cấp cao phải đầu tư những lượng lớn thời gian trong việc tạo ra các chiến lược nhằm thu hút, thúc đẩy và giữ được nhân tài và cần phải hiểu là nhân tài ở tất cả các mức độ.

Theo kinh nghiệm của mình, ông Tom Chong Yew Hoong, Đối tác - Cố vấn cấp cao Ernst & Young Vietnam, cho rằng, thông thường, một nhân viên chỉ làm việc hết 50% năng suất của mình.

Do đó, một trong những công việc của nhà quản lý là phải “khơi dậy” 50% năng suất tiềm tàng còn lại để có thể tạo ra những kết quả tốt hơn. Để làm được điều đó, việc tạo động lực và truyền cảm hứng cho nhân viên là hết sức quan trọng.
(Phương Trinh -
Theo Doanh nhân Sài Gòn)

Kỹ năng mềm không được dạy nhưng là vũ khí lợi hại nhất

0 nhận xét
Khi nền kinh tế càng hội nhập sâu, tư duy về tuyển dụng và Quản trị nhân sự cũng có nhiều thay đổi rõ rệt. Nếu cách đây 10, 15 năm bằng cấp vẫn được coi là tấm vé đầu tiên bước qua cánh cửa của nhiều công ty thì ngày nay, các cán bộ Nhân sự hiểu được rằng chỉ có kiếm tìm những con người phù hợp mới giúp tổ chức doanh nghiệp mình phát triển bền vững. Ngoài việc nắm vững chuyên môn, kiến thức xã hội, trình độ ngoại ngữ, tin học cũng trở thành những đòi hỏi bắt buộc và trong nhiều năm gần đây, Kỹ năng mềm như kỹ năng thuyết trình, làm việc đội nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy và thay đổi bản thân… ngày càng được đánh giá cao ở nhiều doanh nghiệp. Thực trạng về kỹ năng và chuyên môn của lao động Việt Nam  
Theo một cuộc khảo sát gần đây tại Thành phố Hồ Chí Minh, những khiếm khuyết không ít người lao động gặp phải, là: thiếu kinh nghiệm, chuyên môn và kỹ năng mềm (38%); thiếu hiểu biết về các khía cạnh kinh tế và điều kiện sản xuất kinh doanh (20%); kiến thức ngoại ngữ và tin học chưa đáp ứng yêu cầu (20%); ít động lực làm việc, năng suất thấp, không có tinh thần trách nhiệm (0,9%); kiến thức xã hội hạn chế (0,5%)... Bên cạnh đó, đối với giai đoạn phỏng vấn xin việc, bảng nhận xét thể hiện thứ tự quan trọng như sau: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng xử lý thực tế, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm (30%); có kỷ luật, đạo đức (20%); trình độ ngoại ngữ và tin học (20%); trình độ văn hóa và kiến thức cơ bản (10%); sức khỏe (10%), quan hệ xã hội, lý lịch rõ ràng (10%) (Theo Thanh niên Online)
Tiếp xúc và tư vấn cho nhiều tổ chức từ các Tập đoàn đến các Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam, chuyên gia của Skills Group, một tập đoàn chuyên về tư vấn và đào tạo của Đan Mạch nhận thấy việc không được bổ trợ kỹ năng mềm đã gây khó khăn cho cả Doanh nghiệp và người lao động. Nhiều công ty chú trọng vào việc đào tạo cho nhân viên cũng nhận thấy những thay đổi thưc sự trong hiệu quả và kết quả kinh doanh…
Không chỉ các nhân viên làm việc tại các văn phòng mà đối tượng sinh viên thậm chí sớm hơn nữa là các bạn học sinh Phổ thông trung học cũng cần được bổ sung các kỹ năng này. Chúng không chỉ phục vụ cho các bạn khi tham gia vào lực lương lao động trong tương lai mà còn thiết thực cho chính cuộc sống và các hoạt động hiện tại của các bạn. Tự tin với khả năng giao tiếp, xử lý tình huống, đặt mục tiêu và biết cách đi đến mục tiêu… là những kỹ năng hoàn toàn có thể được học và rèn luyện.
Người lao động còn thiếu định hướng trong rèn luyện kỹ năng mềm  
ky nang.jpgHoàng, học chuyên ngành Tài chính Trường Đại học Kinh tế Quốc dân nhưng cậu lại rất yêu thích công việc kinh doanh. Tuy nhiên hình thức khá, nói năng trôi chảy không giúp câu gắn bó với công ty nào hết thời gian thử việc. Nguyên nhân chủ yếu là sau hai tháng thử việc, cậu không chốt được một hợp đồng nào mặc dù có khá nhiều khách hàng tiềm năng. Anh trưởng phòng nơi cậu làm việc gần đây khuyên cậu nên tìm một công việc khác phù hợp hơn. Cậu đã phải nghỉ làm 4 tháng và thử theo học các khóa dạy về kỹ năng bán hàng chuyên nghiệp và đến nay cậu đã làm ở công ty mới đến tháng thứ sáu sau thời gian thử việc do đem lại cho công ty một vài hợp đồng lớn. Hay trường hợp của Phương, nhân viên một công ty xuât nhập khẩu lớn tại Hà Nội, lại là một ví dụ khác. Không có kỹ năng làm việc nhóm, Phương gặp phải khó khăn khi giao tiếp với đồng nghiệp trong phòng Hành chính. Cô gặp nhiều chuyện dở khóc dở cười đặc biệt là trong việc phân công, điều phối công việc và phải rời vị trí trưởng nhóm chỉ sau một tháng lên ngôi mà không hiểu mình đã phạm sai lầm gì.  
Giải pháp cho đào tạo  
Rõ ràng, việc đào tạo kỹ năng mềm cho người lao động ngày càng được nhiều doanh nghiệp và xã hội quan tâm. Nhiều trường đại học cũng đã bước đầu hiện thực hóa bằng các Câu lạc bộ cho sinh viên với nhiều hoạt động nhằm cung cấp các kiến thức bổ trợ cho các bạn bên cạnh kiến thức chuyên ngành. Góp phần vào phong trào này, Thành đoàn Hà Nội cũng liên tục kêu gọi các đơn vị tài trợ tổ chức đào tạo Kỹ năng mềm cho Đoàn viên Thanh niên Thủ đô. Ngày 23 tháng 05 năm 2009, kết hợp cùng Tập đoàn Giáo dục Skills Group, Đan Mạch, Thành đoàn Hà Nội đã tổ chức buổi học về Kỹ năng Quản lý Thời gian hiệu quả tại hội trường lớn Trường đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của hơn 300 Đoàn viên thanh niên là các Thanh niên tình nguyện đến từ các trường Phổ thông Trung học, Đại học Cao đẳng và các quận, huyện đoàn của Hà Nội. Nhân dịp này, bà Văn Thị Thúy Hường, Giám đốc Đào tạo của Skills Group chia sẻ, “Đào tạo kỹ năng mềm nên phổ biến thành một môn học được event2.jpgkhuyến khích thậm chí bắt buộc trong chương trình học. Để tạo một thói quen làm việc chuyên nghiệp, các bạn sinh viên phải có cơ hội thực hành nó thường xuyên ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường đại học”.  
Xây dựng một xã hội làm việc và hơn thế là làm việc chuyên nghiệp, bên cạnh kiến thức chuyên môn, chúng ta còn phải quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng. Cần nhận thức rằng không chỉ người lao động cần mà từ các giám đốc điều hành, nhà quản lý... cũng rất cần rèn luyện và nâng cao kỹ năng cho bản thân. Đặc biệt với đội ngũ lao động tương lai như học sinh, sinh viên càng nên được phổ cập và hỗ trợ để tạo thành thói quen ngay khi còn trẻ. Để đạt được điều này, sự kết hợp và trợ giúp của nhiều chuyên gia, các tổ chức giáo dục, tuyên truyền, cơ chế chính sách về giáo dục của Nhà nước và nhận thức của toàn xã hội là rất quan trọng.

www.SAGA.vn - skillsgroup

Kỹ năng mềm không được dạy nhưng là vũ khí lợi hại nhất

0 nhận xét
Khi nền kinh tế càng hội nhập sâu, tư duy về tuyển dụng và Quản trị nhân sự cũng có nhiều thay đổi rõ rệt. Nếu cách đây 10, 15 năm bằng cấp vẫn được coi là tấm vé đầu tiên bước qua cánh cửa của nhiều công ty thì ngày nay, các cán bộ Nhân sự hiểu được rằng chỉ có kiếm tìm những con người phù hợp mới giúp tổ chức doanh nghiệp mình phát triển bền vững. Ngoài việc nắm vững chuyên môn, kiến thức xã hội, trình độ ngoại ngữ, tin học cũng trở thành những đòi hỏi bắt buộc và trong nhiều năm gần đây, Kỹ năng mềm như kỹ năng thuyết trình, làm việc đội nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy và thay đổi bản thân… ngày càng được đánh giá cao ở nhiều doanh nghiệp. Thực trạng về kỹ năng và chuyên môn của lao động Việt Nam  
Theo một cuộc khảo sát gần đây tại Thành phố Hồ Chí Minh, những khiếm khuyết không ít người lao động gặp phải, là: thiếu kinh nghiệm, chuyên môn và kỹ năng mềm (38%); thiếu hiểu biết về các khía cạnh kinh tế và điều kiện sản xuất kinh doanh (20%); kiến thức ngoại ngữ và tin học chưa đáp ứng yêu cầu (20%); ít động lực làm việc, năng suất thấp, không có tinh thần trách nhiệm (0,9%); kiến thức xã hội hạn chế (0,5%)... Bên cạnh đó, đối với giai đoạn phỏng vấn xin việc, bảng nhận xét thể hiện thứ tự quan trọng như sau: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng xử lý thực tế, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm (30%); có kỷ luật, đạo đức (20%); trình độ ngoại ngữ và tin học (20%); trình độ văn hóa và kiến thức cơ bản (10%); sức khỏe (10%), quan hệ xã hội, lý lịch rõ ràng (10%) (Theo Thanh niên Online)
Tiếp xúc và tư vấn cho nhiều tổ chức từ các Tập đoàn đến các Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam, chuyên gia của Skills Group, một tập đoàn chuyên về tư vấn và đào tạo của Đan Mạch nhận thấy việc không được bổ trợ kỹ năng mềm đã gây khó khăn cho cả Doanh nghiệp và người lao động. Nhiều công ty chú trọng vào việc đào tạo cho nhân viên cũng nhận thấy những thay đổi thưc sự trong hiệu quả và kết quả kinh doanh…
Không chỉ các nhân viên làm việc tại các văn phòng mà đối tượng sinh viên thậm chí sớm hơn nữa là các bạn học sinh Phổ thông trung học cũng cần được bổ sung các kỹ năng này. Chúng không chỉ phục vụ cho các bạn khi tham gia vào lực lương lao động trong tương lai mà còn thiết thực cho chính cuộc sống và các hoạt động hiện tại của các bạn. Tự tin với khả năng giao tiếp, xử lý tình huống, đặt mục tiêu và biết cách đi đến mục tiêu… là những kỹ năng hoàn toàn có thể được học và rèn luyện.
Người lao động còn thiếu định hướng trong rèn luyện kỹ năng mềm  
ky nang.jpgHoàng, học chuyên ngành Tài chính Trường Đại học Kinh tế Quốc dân nhưng cậu lại rất yêu thích công việc kinh doanh. Tuy nhiên hình thức khá, nói năng trôi chảy không giúp câu gắn bó với công ty nào hết thời gian thử việc. Nguyên nhân chủ yếu là sau hai tháng thử việc, cậu không chốt được một hợp đồng nào mặc dù có khá nhiều khách hàng tiềm năng. Anh trưởng phòng nơi cậu làm việc gần đây khuyên cậu nên tìm một công việc khác phù hợp hơn. Cậu đã phải nghỉ làm 4 tháng và thử theo học các khóa dạy về kỹ năng bán hàng chuyên nghiệp và đến nay cậu đã làm ở công ty mới đến tháng thứ sáu sau thời gian thử việc do đem lại cho công ty một vài hợp đồng lớn. Hay trường hợp của Phương, nhân viên một công ty xuât nhập khẩu lớn tại Hà Nội, lại là một ví dụ khác. Không có kỹ năng làm việc nhóm, Phương gặp phải khó khăn khi giao tiếp với đồng nghiệp trong phòng Hành chính. Cô gặp nhiều chuyện dở khóc dở cười đặc biệt là trong việc phân công, điều phối công việc và phải rời vị trí trưởng nhóm chỉ sau một tháng lên ngôi mà không hiểu mình đã phạm sai lầm gì.  
Giải pháp cho đào tạo  
Rõ ràng, việc đào tạo kỹ năng mềm cho người lao động ngày càng được nhiều doanh nghiệp và xã hội quan tâm. Nhiều trường đại học cũng đã bước đầu hiện thực hóa bằng các Câu lạc bộ cho sinh viên với nhiều hoạt động nhằm cung cấp các kiến thức bổ trợ cho các bạn bên cạnh kiến thức chuyên ngành. Góp phần vào phong trào này, Thành đoàn Hà Nội cũng liên tục kêu gọi các đơn vị tài trợ tổ chức đào tạo Kỹ năng mềm cho Đoàn viên Thanh niên Thủ đô. Ngày 23 tháng 05 năm 2009, kết hợp cùng Tập đoàn Giáo dục Skills Group, Đan Mạch, Thành đoàn Hà Nội đã tổ chức buổi học về Kỹ năng Quản lý Thời gian hiệu quả tại hội trường lớn Trường đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của hơn 300 Đoàn viên thanh niên là các Thanh niên tình nguyện đến từ các trường Phổ thông Trung học, Đại học Cao đẳng và các quận, huyện đoàn của Hà Nội. Nhân dịp này, bà Văn Thị Thúy Hường, Giám đốc Đào tạo của Skills Group chia sẻ, “Đào tạo kỹ năng mềm nên phổ biến thành một môn học được event2.jpgkhuyến khích thậm chí bắt buộc trong chương trình học. Để tạo một thói quen làm việc chuyên nghiệp, các bạn sinh viên phải có cơ hội thực hành nó thường xuyên ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đường đại học”.  
Xây dựng một xã hội làm việc và hơn thế là làm việc chuyên nghiệp, bên cạnh kiến thức chuyên môn, chúng ta còn phải quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng. Cần nhận thức rằng không chỉ người lao động cần mà từ các giám đốc điều hành, nhà quản lý... cũng rất cần rèn luyện và nâng cao kỹ năng cho bản thân. Đặc biệt với đội ngũ lao động tương lai như học sinh, sinh viên càng nên được phổ cập và hỗ trợ để tạo thành thói quen ngay khi còn trẻ. Để đạt được điều này, sự kết hợp và trợ giúp của nhiều chuyên gia, các tổ chức giáo dục, tuyên truyền, cơ chế chính sách về giáo dục của Nhà nước và nhận thức của toàn xã hội là rất quan trọng.

www.SAGA.vn - skillsgroup

Vì sao người Việt Nam thiếu sự hợp tác

0 nhận xét
ôi viết bài này tham gia bàn tròn thảo luận tại sao nhân viên Việt Nam thiếu tinh thần hợp tác trên thời báo Kinh Tế Sài Gòn, tháng 11-2005.
Theo tôi, có bốn lý do sau đây:
Thứ nhất, người Việt Nam đã đưa môi trường làm việc, bạn đồng nghiệp vào trong cuộc sống riêng tư của mình quá nhiều. Hầu hết chúng ta xem đồng nghiệp là những người bạn thân thiết. Ở các nước phương Tây, cả các nước tiên tiến trong khu vực, họ tách bạch rất rõ giữa đồng nghiệp và bạn bè, xem đó là hai thế giới khác nhau. Tôi từng ngạc nhiên khi thấy một người bạn Úc  tổ chức đám cưới, mời khoảng 200 người dự tiệc nhưng trong đó chỉ có hai người làm việc cùng công ty. Trong khi đó, chúng ta làm việc chung, chơi chung, nhậu chung. Gắn bó nhiều, “thương” nhiều, thì cũng “ghét” nhau, “ganh tức” nhau nhiều. Những tình cảm “hỷ, nộ, ái, ố” vì thế len lỏi vào trong môi trường làm việc - một môi trường đúng ra chỉ nên có sự tôn trọng nhau, quý mến nhau như những đồng nghiệp.

Thứ hai, người Việt Nam chúng ta còn thiếu một chút chuyên nghiệp trong làm việc. Ở một số nơi, người ta có thể thảo luận, phê bình nhau chan chát, để tìm ra ý hay cho công ty phát triển. Khi họp hành, họ phê bình, săm soi ý tưởng, chứ không “tấn công” con người. Có những cuộc họp, họ sẵn sàng thảo luận hàng tiếng đồng hồ, tuy có đỏ mặt tía tai... nhưng sau khi đã đạt được ý tốt nhất là gần như họ không còn để ý đến những tranh luận vừa xảy ra. Trong khi đó người Việt Nam chúng ta hay tự ái và hay đưa danh dự cá nhân vào những ý tưởng của mình. Ý tưởng mà bị thảo luận, phê bình thì cũng gần như cá nhân bị “tấn công”. Điều đó thường dẫn đến hai thái cực. Một là thương nhau, “dĩ hòa vi quý”, cố gắng không có ý kiến trái ngược và điều đó hoàn toàn không tốt cho sự phát triển của tổ chức. Hai là ngược lại, “dập” không thương tiếc ý kiến của những người “phe khác”. Ý kiến càng khác nhau, thì mâu thuẫn cá nhân và phe nhóm càng cao.

Thứ ba, một số nhân viên tạo ra những phe cánh mâu thuẫn với nhau và đôi khi đối đầu với cả cấp quản lý trực tiếp. Ngay cả ở một số công ty lớn của nước ngoài tại Việt Nam , dù đã có hệ thống làm việc chuyên nghiệp trong tuyển dụng và đánh giá nhân viên nhưng cũng không tránh được việc cư xử cảm tính của một số “sếp” người nước ngoài hay người Việt Nam . Chẳng hạn đôi khi cũng có những trường hợp thăng tiến gây ngạc nhiên cho mọi người. Và vì thế theo lẽ thường, một số người sẽ “tranh thủ” sếp, tạo phe cánh để có thể “bay xa bay nhanh” hơn bình thường. Riêng ở các công ty, cơ quan nhà nước thì có thêm tình trạng nhiều nhân viên là người nhà, là “đàn em” của anh Hai, anh Ba... do đó cấp quản lý trực tiếp không dám “đụng” đến.  Còn  ở các công ty tư nhân, công ty cổ phần, đôi khi nhân viên là người nhà của giám đốc hay của thành viên hội đồng quản trị… các “nhân vật” này thường tạo ra những chuyện làm nội bộ xáo trộn. Cấp quản lý dù có giỏi đến đâu cũng bị “bó tay” và rất khó làm việc.

Thứ tư, một số người hay đặt quyền lợi cá nhân lên trên quyền lợi của tập thể. Trong trường hợp hai quyền lợi mâu thuẫn nhau, một số người, bất chấp tất cả, sẵn sàng theo đuổi quyền lợi cá nhân. Để hạn chế được điều này thì chính sách quyền lợi phải hết sức thực tế, công bằng cho cả cá nhân và tổ chức, và quan trọng hơn là các cá nhân phải được đào tạo để hành xử hết sức chuyên nghiệp.

Vì sao người Việt Nam thiếu sự hợp tác

0 nhận xét
ôi viết bài này tham gia bàn tròn thảo luận tại sao nhân viên Việt Nam thiếu tinh thần hợp tác trên thời báo Kinh Tế Sài Gòn, tháng 11-2005.
Theo tôi, có bốn lý do sau đây:
Thứ nhất, người Việt Nam đã đưa môi trường làm việc, bạn đồng nghiệp vào trong cuộc sống riêng tư của mình quá nhiều. Hầu hết chúng ta xem đồng nghiệp là những người bạn thân thiết. Ở các nước phương Tây, cả các nước tiên tiến trong khu vực, họ tách bạch rất rõ giữa đồng nghiệp và bạn bè, xem đó là hai thế giới khác nhau. Tôi từng ngạc nhiên khi thấy một người bạn Úc  tổ chức đám cưới, mời khoảng 200 người dự tiệc nhưng trong đó chỉ có hai người làm việc cùng công ty. Trong khi đó, chúng ta làm việc chung, chơi chung, nhậu chung. Gắn bó nhiều, “thương” nhiều, thì cũng “ghét” nhau, “ganh tức” nhau nhiều. Những tình cảm “hỷ, nộ, ái, ố” vì thế len lỏi vào trong môi trường làm việc - một môi trường đúng ra chỉ nên có sự tôn trọng nhau, quý mến nhau như những đồng nghiệp.

Thứ hai, người Việt Nam chúng ta còn thiếu một chút chuyên nghiệp trong làm việc. Ở một số nơi, người ta có thể thảo luận, phê bình nhau chan chát, để tìm ra ý hay cho công ty phát triển. Khi họp hành, họ phê bình, săm soi ý tưởng, chứ không “tấn công” con người. Có những cuộc họp, họ sẵn sàng thảo luận hàng tiếng đồng hồ, tuy có đỏ mặt tía tai... nhưng sau khi đã đạt được ý tốt nhất là gần như họ không còn để ý đến những tranh luận vừa xảy ra. Trong khi đó người Việt Nam chúng ta hay tự ái và hay đưa danh dự cá nhân vào những ý tưởng của mình. Ý tưởng mà bị thảo luận, phê bình thì cũng gần như cá nhân bị “tấn công”. Điều đó thường dẫn đến hai thái cực. Một là thương nhau, “dĩ hòa vi quý”, cố gắng không có ý kiến trái ngược và điều đó hoàn toàn không tốt cho sự phát triển của tổ chức. Hai là ngược lại, “dập” không thương tiếc ý kiến của những người “phe khác”. Ý kiến càng khác nhau, thì mâu thuẫn cá nhân và phe nhóm càng cao.

Thứ ba, một số nhân viên tạo ra những phe cánh mâu thuẫn với nhau và đôi khi đối đầu với cả cấp quản lý trực tiếp. Ngay cả ở một số công ty lớn của nước ngoài tại Việt Nam , dù đã có hệ thống làm việc chuyên nghiệp trong tuyển dụng và đánh giá nhân viên nhưng cũng không tránh được việc cư xử cảm tính của một số “sếp” người nước ngoài hay người Việt Nam . Chẳng hạn đôi khi cũng có những trường hợp thăng tiến gây ngạc nhiên cho mọi người. Và vì thế theo lẽ thường, một số người sẽ “tranh thủ” sếp, tạo phe cánh để có thể “bay xa bay nhanh” hơn bình thường. Riêng ở các công ty, cơ quan nhà nước thì có thêm tình trạng nhiều nhân viên là người nhà, là “đàn em” của anh Hai, anh Ba... do đó cấp quản lý trực tiếp không dám “đụng” đến.  Còn  ở các công ty tư nhân, công ty cổ phần, đôi khi nhân viên là người nhà của giám đốc hay của thành viên hội đồng quản trị… các “nhân vật” này thường tạo ra những chuyện làm nội bộ xáo trộn. Cấp quản lý dù có giỏi đến đâu cũng bị “bó tay” và rất khó làm việc.

Thứ tư, một số người hay đặt quyền lợi cá nhân lên trên quyền lợi của tập thể. Trong trường hợp hai quyền lợi mâu thuẫn nhau, một số người, bất chấp tất cả, sẵn sàng theo đuổi quyền lợi cá nhân. Để hạn chế được điều này thì chính sách quyền lợi phải hết sức thực tế, công bằng cho cả cá nhân và tổ chức, và quan trọng hơn là các cá nhân phải được đào tạo để hành xử hết sức chuyên nghiệp.

7 giai đoạn của quá trình kinh doanh

0 nhận xét
www.SAGA.vn - Những ai lao vào con đường kinh doanh, nuôi chí trở thành ông chủ doanh nghiệp nên biết rằng từ ngày đầu thành lập cho đến lúc tan rã trong kinh doanh họ sẽ phải trải qua các giai đoạn khác nhau. Trên thực tế tiến trình của con đường kinh doanh gồm có 7 giai đoạn. Nắm được 7 giai đoạn đó và biết cách lên kế hoạch sắp xếp cho chúng là điều hết sức quan trọng để đạt được những bước thành công trong kinh doanh của các chủ doanh nghiệp.

1. Giai đoạn "gieo hạt"

Đó là giai đoạn mà việc kinh doanh chỉ tồn tại trong suy nghĩ hay nói cách khác đó chỉ là ý tưởng, ý đồ kinh doanh. Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn "khai sinh" doanh nghiệp mới. Hầu hết các công ty trong giai đoạn này sẽ cần vượt qua thử thách: chấp nhận thị trường và theo đuổi 1 thời cơ thích hợp riêng biệt. Trong giai đoạn này chủ các doanh nghiệp nên cẩn trọng, không nên rải các nguồn tài chính quá mỏng.

Điểm trọng tâm của giai đoạn này làm sao chọn thời cơ kinh doanh phù hợp với kỹ năng, kinh nghiệm và niềm đam mê để khởi nghiệp. Và cũng đừng quên những điểm mấu chốt quan trọng khác đó là: quyết định chọn cơ cấu quyền sở hữu doanh nghiệp, tìm cố vấn chuyên nghiệp, và lập kế hoạch kinh doanh.

Những nguồn tài chính cho việc phát triển trong giai đoạn này có thể rất khó khăn để định vị. Bởi lẽ ở giai đoạn này, doanh nghiệp sẽ phải tự tìm kiếm thị trường, khách hàng cho chính mình. Doanh nghiệp có thể sẽ phải dựa vào nguồn vốn vay mượn từ chủ sở hữu, bạn bè, gia đình, hay các nhà đầu tư cá nhân. Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể sử dụng vốn từ nguồn khác như: nhà cung cấp, khách hàng, các khoản viện trợ của chính phủ.

2. Giai đoạn khởi động

Doanh nghiệp vừa được hình thành và tồn tại một cách hợp pháp. Các sản phẩm và dịch vụ hiện đã đi vào sản xuất và đã có những khách hàng đầu tiên. Trong giai đoạn kinh doanh này, những đòi hỏi về vốn và thời gian tìm kiếm thị trường được đánh giá khá cao. Và thử thách căn bản ở đây đó là không được để những khoản tiền dù là nhỏ nhất tuột khỏi tay. Chủ doanh nghiệp phải học cách khảo sát "tính thực tế" những nhu cầu từ phía khách hàng có thể mang lại lợi nhuận và chắc chắn rằng việc kinh doanh đang đi đúng hướng.

Giai đoạn khởi động đòi hỏi doanh nghiệp phải thiết lập cơ sở khách hàng và thị trường cùng với nguồn ngân lưu được kiểm soát và theo dõi. Nguồn vốn hỗ trợ cho sự phát triển trong giai đoạn này có thể kêu gọi từ người sở hữu, bạn bè, gia đình, nhà cung cấp, khách hàng, đi vay hay các khoản viện trợ.

3. Giai đoạn phát triển


Ở giai đoạn này, doanh nghiệp đã trải qua "những năm chập chững biết đi" và nay phát triển thành một "đứa trẻ" thực sự. Các khoản doanh thu và khách hàng đang tăng lên điều đó đồng nghĩa với sự xuất hiện của những thời cơ mới cũng như những thách thức mới. Lợi nhuận sinh trưởng kéo theo tính cạnh tranh cũng tăng. Thử thách khốc liệt nhất trong giai đoạn này mà công ty phải đối mặt với đó chính là thực đơn không đổi các vấn đề đưa ra để giành lấy thời cơ và các nguồn tài chính. Để làm được điều đó đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải có phương pháp quản lý hiệu quả cao và có thể lên kế hoạch kinh doanh mới. Học hỏi để đào tạo nhân viên như thế nào cũng như việc quản lý và nghệ thuật giao phó, uỷ thác là chìa khoá cho sự thành công của giai đoạn này.

Chu trình nhịp sống tăng trưởng của các doanh nghiệp dựa trên sự vận hành của chính doanh nghiệp ấy theo một cách thức chuẩn hơn nhằm đáp ứng với khối lượng bán hàng và lượng khách hàng ngày càng tăng. Do đó doanh nghiệp cần áp dụng những hệ thống quản lý, phương pháp tính toán và vận hành tốt hơn. Đồng thời doanh nghiệp cũng cần tìm kiếm và tuyển dụng những nhân viên có khả năng xử lý tốt các vấn đề phát sinh trong quá trình kinh doanh. Nguồn vốn doanh nghiệp có thể tận dụng trong giai đoạn này đó là vay từ ngân hàng, từ lợi nhuận, đối tác, viện trợ và những lựa chọn cho thuê.

4. Giai đoạn ổn định

Trong giai đoạn thiết lập việc kinh doanh của công ty dường như đã "chín" và phát đạt với số lượng khách hàng trung thành chiếm vị trí trên thương trường. Tăng trưởng bán hàng không còn bùng nổ như trước nhưng vẫn duy trì trong tầm kiểm soát. Việc kinh doanh cũng trở thành một "thói quen" với các tiến trình tại chỗ nhằm bảo đảm cho tính kiên định, lâu dài đối với sự phát triển của doanh nghiệp.

Giai đoạn này doanh nghiệp có thể "tạm nghỉ ngơi" và hài lòng với những thành tích đã đạt được. Chủ doanh nghiệp đã làm việc cật lực và cũng cần thư giãn, tuy nhiên thương trường vô cùng tàn nhẫn, khốc liệt và mang tính cạnh tranh cao. Do vậy doanh nghiệp cần có một điểm tựa vững mạnh hơn trong hình ảnh lớn hơn. Những vấn đề như nhân tố kinh tế, tính cạnh tranh hay sự thay đổi thị yếu của khách hàng cũng như xu hướng có thể nhanh chóng làm cho mọi cố gắng trên của doanh nghiệp trở thành “công cốc công cò”. Do vậy chu trình nhịp sống của doanh nghiệp được thiết lập sẽ phải dựa trên những cải tiến và hoạt động năng suất.

Để có thể cạnh tranh được với thị trường vốn, chủ doanh nghiệp sẽ cần đến những hoạt động kinh doanh tốt hơn và quy mô lớn hơn cùng với kỹ thuật tự động hoá và đổi mới các thiết bị nhằm cải thiện năng suất kinh doanh. Nguồn vốn cho giai đoạn này có thể lấy từ các khoản lợi nhuận, vay ngân hàng, nhà đầu tư và các khoản viện trợ của chính phủ. Con đường kinh doanh gồm 7 giai đoạn nhưng không phải chúng diễn ra theo trình tự. Một số doanh nghiệp mới được thành lập nhưng chuyển từ giai đoạn khởi động đến tan rã rất nhanh.

5. Giai đoạn mở rộng


Sự tăng trưởng mới trong thị trường mới và các kênh phân phối là những đặc trưng cơ bản dễ thấy trong giai đoạn này. Đây là giai đoạn cho sự lựa chọn của các ông chủ doanh nghiệp nhỏ nhằm chiếm lĩnh những phần lớn hơn của cổ phần thị trường và tìm kiếm nguồn doanh thu mới cũng như các kênh kinh doanh khác mang lại lợi nhuận. Việc mở rộng vào những thị trường mới đòi hỏi sự nghiên cứu và lên kế hoạch cho việc kinh doanh ở giai đoạn "gieo hạt" và "khởi động". Chủ doanh nghiệp nên tập trung những công việc kinh doanh mạo hiểm một chút. Điều này sẽ làm giàu thêm khả năng hiện tại và kinh nghiệm của chính họ.

Tiến lên phía trước lao vào những lĩnh vực kinh doanh mới không liên quan có thể là cách thử sức với những thử thách tàn khốc. Cụ thể là doanh nghiệp nên tăng thêm những sản phẩm, dịch vụ mới và tung ra thị trường hiện tại hay mở rộng những sản phẩm dịch vụ đã có vào thị trường mới, vào các đối tượng khách hàng khác nhau và hoặc thị trường định hướng tới. Nguồn vốn cho giai đoạn mở rộng có thể lấy từ liên doanh, các ngân hàng, nhà đầu tư mới, đối tác.

6. Giai đoạn suy thoái

Những thay đổi về điều kiện thị trường, xã hội, nền kinh tế có thể làm giảm số lượng bán hàng, do đó lợi nhuận cũng giảm theo. Vấn đề này có thể làm cho nhiều doanh nghiệp nhỏ phá sản nhanh hơn. Bởi các doanh nghiệp trong giai đoạn này sẽ phải đương đầu với rất nhiều thử thách như lợi nhuận và doanh số bán hàng suy giảm, dòng ngân lưu có thể rơi vào tình trạng thâm hụt. Vấn đề lớn nhất đó là kéo dài thời gian để doanh nghiệp có thể hỗ trợ cho dòng ngân lưu đang không mấy khả quan này.

Chủ doanh nghiệp có thể bắt đầu tự hỏi liệu đã đến lúc chuyển sang giai đoạn cuối cùng của chu trình nhịp sống doanh nghiệp - giai đoạn từ bỏ (tan rã) hay chưa. Họ cũng nên tìm kiếm những cơ hội mới, những mạo hiểm kinh doanh mới. Biện pháp cắt giảm chi phí và tìm ra những hướng đi mới nhằm mở rộng dòng ngân lưu là những việc làm cấp bách, cần thiết cho giai đoạn này. Nguồn vốn có thể huy động từ nhà cung cấp, khách hàng, những người sở hữu.

7. Giai đoạn tan rã

Giai đoạn này là thời điểm toàn bộ cả năm cố gắng và làm việc vất vả lao vào kinh doanh đồng khởi ra đi, hoặc nó có thể hiểu đơn giản là chấm dứt công việc kinh doanh toàn bộ. Việc bán doanh nghiệp là điều khó tránh khỏi, nó đòi hỏi phải đánh giá thực tế tình hình công ty kỹ càng. Những năm làm việc cật lực để xây dựng công ty đôi khi thật khó khăn nén lại để xem xét đánh giá tình hình thực tế để quyết định đâu là giá trị đích thực của công ty (vị thế của công ty) trong thương trường hiện tại.

Nếu một ông chủ doanh nghiệp bắt đầu tìm cách để đóng cửa doanh nghiệp, thì ông ta sẽ phải đối mặt với thử thách liên quan đến vấn đề tài chính và tâm lý của sự thua lỗ. Đó là việc cần thiết để có được giá trị đích thực và chuyên nghiệp của công ty. Chủ doanh nghiệp cũng nên xem xét cách vận hành, rào cản cạnh tranh và cách quản lý sao cho công ty có thể đáp ứng và làm hài lòng khách hàng.

Trong giai đoạn này, việc thiết lập văn bản thoả thuận mua bán hợp pháp cùng với kế hoạch chuyển nhượng kinh doanh là điều rất quan trọng. Và nguồn vốn cho giai đoạn này chính là đối tác đánh giá kinh doanh. Các cố vấn tài chính và kế toán có thể đưa ra chiến lược thuế tốt nhất để quyết định xem nên bán hay đóng cửa doanh nghiệp.

Chú ý

Các giai đoạn của chu trình nhịp sống doanh nghiệp chắc chắn sẽ không xảy ra theo trình tự. Một số doanh nghiệp mới được thành lập nhưng chuyển từ giai đoạn khởi động đến tan rã rất nhanh. Số khác có thể không tiến đến giai đoạn mở rộng và chỉ dừng ở giai đoạn ổn định. Thành công rực rỡ hay thẩt bại thảm hại trong kinh doanh là tuỳ thuộc vào tài năng của chủ doanh nghiệp thích nghi với các thay đổi của chu trình cuộc sống.

Điều mà họ nên làm là tập trung và áp dụng các biện pháp nhằm giúp công ty vượt qua giai đoạn khó khăn đó. Và những biện pháp này sẽ có tác động đến công ty sau này. Hiểu được việc áp dụng những giai đoạn nào trong chu trình kinh doanh là thích hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được bất kỳ thách thức nào phía trước và đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn.
www.SAGA.vn - september | Nguồn Vnbrand

Làm gì mau giàu

0 nhận xét
Nhân vật của năm 2010 theo bình chọn của tạp chí Time (Mỹ) Mark Zuckerberg chỉ mới 26 tuổi: Tài sản ước tính 6,9 tỷ đô la Mỹ (theo Forbes). Anh giàu hơn cả người hàng xóm nổi tiếng ở Palo Alto - Steve Jobs, người có số năm làm ra tiền lớn hơn số tuổi của Mark.

Mark Zuckerberg giàu mau nhờ kết nối hơn nửa tỷ người trên khắp thế giới thông qua mạng xã hội Facebook. Hai người khác đồng sáng lập Facebook, Dustin Moskovitz và Eduardo Saverin cũng ghi tên trong danh sách 500 người giàu nhất nước Mỹ; trong đó Dustin Moskovitz là tỷ phú trẻ tuổi nhất.

Ra mắt vào tháng 2 năm 2004, Facebook đã tăng trưởng nhanh chóng về số người dùng cùng với doanh thu. Facebook hiện được định giá 41,2 tỷ đô la Mỹ (USD), doanh thu năm 2010 ước tính đạt 2 tỷ USD.

Facebook giờ sánh ngang với những doanh nghiệp tên tuổi như Adobe. Nhưng sự khác biệt giữa Facebook và những doanh nghiệp truyền thống đó là số lượng nhân viên chính thức hưởng lương không nhiều, mà chủ yếu nhờ nguồn lực miễn phí bên ngoài - người dùng. Có thể nói, chính nội dung do người dùng tạo ra (bao gồm thông tin cá nhân) đem đến nguồn lợi cho Facebook (thông qua bán quảng cáo).

Facebook không phải là công ty đầu tiên hái quả ngọt từ cộng đồng người dùng. Năm 2006, Yahoo định giá Facebook 1 tỷ USD nhưng thương vụ bất thành. Cùng năm đó, những người sáng lập Youtube - dịch vụ web cho phép người dùng chia sẻ video - đã bỏ túi 1,65 tỷ USD sau khi bán lại dịch vụ chỉ mới 18 tháng tuổi cho Google.

Nhưng cả Facebook và Youtube đều chưa phải là công ty “làm ra tiền” nhanh nhất nhờ người dùng, danh hiệu này thuộc về cái tên mới nổi: Groupon. Cuối tháng 11/2010, theo New York Times, Google đã đề nghị mua lại công ty Groupon chỉ mới 2 năm tuổi với số tiền trên 5 tỷ USD. Doanh thu năm 2010 của Groupon ước tính đạt gần 2 tỷ USD (theo Wall Street Journal). Tạp chí Forbes nhận định Groupon là công ty dựa trên web có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất từ trước đến nay.

Được đánh giá có tiềm năng kế tục vị trí của eBay, mô hình kinh doanh của Groupon khai thác sở thích săn hàng giảm giá của người dùng và sức mạnh của việc nối mạng xã hội, đem lại lợi ích cho nhiều người có cùng nhu cầu. Groupon thành công trong việc kết nối cộng đồng người dùng to lớn của các mạng xã hội với các nhà cung cấp. Chưa từng có mô hình nào “bắc cầu” giữa phương thức kinh doanh truyền thống và trên web tốt được như vậy.

Sự phổ biến của Internet tốc độ cao và việc nối mạng xã hội rộng khắp giúp cho lớp doanh nghiệp mới dựa trên web ăn nên làm ra. Ngoài Youtube, Facebook, Twitter, Groupon, còn có thể kể thêm những cái tên như LinkedIn, Yelp, Zynga, Foursquare… Theo hãng Nyppex, tính chung các công ty dựa trên mạng xã hội tăng giá đến 54% trong 6 tháng cuối năm 2010.

Trong lúc kinh tế suy thoái, nhiều chủ doanh nghiệp khốn đốn và nhiều người mất việc thì các chủ doanh nghiệp dựa trên mạng xã hội lại tăng hạng giàu. Trị giá tài sản của  Mark Zuckerberg trong năm 2010 tăng gấp 3 lần so với năm trước.

“Kho vàng” Internet đã từng tạo nên những tỷ phú như David Filo và Jerry Yang (sáng lập Yahoo), Larry Page và Sergey Brin (sáng lập Google)… giờ “cấp vốn” tiếp cho lớp tỷ phú mới. Tài nguyên từ cộng đồng vô cùng lớn. Cơ hội vẫn còn.
IGWorld (theo PCW VN)

Làm gì mau giàu

0 nhận xét
Nhân vật của năm 2010 theo bình chọn của tạp chí Time (Mỹ) Mark Zuckerberg chỉ mới 26 tuổi: Tài sản ước tính 6,9 tỷ đô la Mỹ (theo Forbes). Anh giàu hơn cả người hàng xóm nổi tiếng ở Palo Alto - Steve Jobs, người có số năm làm ra tiền lớn hơn số tuổi của Mark.

Mark Zuckerberg giàu mau nhờ kết nối hơn nửa tỷ người trên khắp thế giới thông qua mạng xã hội Facebook. Hai người khác đồng sáng lập Facebook, Dustin Moskovitz và Eduardo Saverin cũng ghi tên trong danh sách 500 người giàu nhất nước Mỹ; trong đó Dustin Moskovitz là tỷ phú trẻ tuổi nhất.

Ra mắt vào tháng 2 năm 2004, Facebook đã tăng trưởng nhanh chóng về số người dùng cùng với doanh thu. Facebook hiện được định giá 41,2 tỷ đô la Mỹ (USD), doanh thu năm 2010 ước tính đạt 2 tỷ USD.

Facebook giờ sánh ngang với những doanh nghiệp tên tuổi như Adobe. Nhưng sự khác biệt giữa Facebook và những doanh nghiệp truyền thống đó là số lượng nhân viên chính thức hưởng lương không nhiều, mà chủ yếu nhờ nguồn lực miễn phí bên ngoài - người dùng. Có thể nói, chính nội dung do người dùng tạo ra (bao gồm thông tin cá nhân) đem đến nguồn lợi cho Facebook (thông qua bán quảng cáo).

Facebook không phải là công ty đầu tiên hái quả ngọt từ cộng đồng người dùng. Năm 2006, Yahoo định giá Facebook 1 tỷ USD nhưng thương vụ bất thành. Cùng năm đó, những người sáng lập Youtube - dịch vụ web cho phép người dùng chia sẻ video - đã bỏ túi 1,65 tỷ USD sau khi bán lại dịch vụ chỉ mới 18 tháng tuổi cho Google.

Nhưng cả Facebook và Youtube đều chưa phải là công ty “làm ra tiền” nhanh nhất nhờ người dùng, danh hiệu này thuộc về cái tên mới nổi: Groupon. Cuối tháng 11/2010, theo New York Times, Google đã đề nghị mua lại công ty Groupon chỉ mới 2 năm tuổi với số tiền trên 5 tỷ USD. Doanh thu năm 2010 của Groupon ước tính đạt gần 2 tỷ USD (theo Wall Street Journal). Tạp chí Forbes nhận định Groupon là công ty dựa trên web có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất từ trước đến nay.

Được đánh giá có tiềm năng kế tục vị trí của eBay, mô hình kinh doanh của Groupon khai thác sở thích săn hàng giảm giá của người dùng và sức mạnh của việc nối mạng xã hội, đem lại lợi ích cho nhiều người có cùng nhu cầu. Groupon thành công trong việc kết nối cộng đồng người dùng to lớn của các mạng xã hội với các nhà cung cấp. Chưa từng có mô hình nào “bắc cầu” giữa phương thức kinh doanh truyền thống và trên web tốt được như vậy.

Sự phổ biến của Internet tốc độ cao và việc nối mạng xã hội rộng khắp giúp cho lớp doanh nghiệp mới dựa trên web ăn nên làm ra. Ngoài Youtube, Facebook, Twitter, Groupon, còn có thể kể thêm những cái tên như LinkedIn, Yelp, Zynga, Foursquare… Theo hãng Nyppex, tính chung các công ty dựa trên mạng xã hội tăng giá đến 54% trong 6 tháng cuối năm 2010.

Trong lúc kinh tế suy thoái, nhiều chủ doanh nghiệp khốn đốn và nhiều người mất việc thì các chủ doanh nghiệp dựa trên mạng xã hội lại tăng hạng giàu. Trị giá tài sản của  Mark Zuckerberg trong năm 2010 tăng gấp 3 lần so với năm trước.

“Kho vàng” Internet đã từng tạo nên những tỷ phú như David Filo và Jerry Yang (sáng lập Yahoo), Larry Page và Sergey Brin (sáng lập Google)… giờ “cấp vốn” tiếp cho lớp tỷ phú mới. Tài nguyên từ cộng đồng vô cùng lớn. Cơ hội vẫn còn.
IGWorld (theo PCW VN)

7 giai đoạn của quá trình kinh doanh

0 nhận xét
www.SAGA.vn - Những ai lao vào con đường kinh doanh, nuôi chí trở thành ông chủ doanh nghiệp nên biết rằng từ ngày đầu thành lập cho đến lúc tan rã trong kinh doanh họ sẽ phải trải qua các giai đoạn khác nhau. Trên thực tế tiến trình của con đường kinh doanh gồm có 7 giai đoạn. Nắm được 7 giai đoạn đó và biết cách lên kế hoạch sắp xếp cho chúng là điều hết sức quan trọng để đạt được những bước thành công trong kinh doanh của các chủ doanh nghiệp.

1. Giai đoạn "gieo hạt"

Đó là giai đoạn mà việc kinh doanh chỉ tồn tại trong suy nghĩ hay nói cách khác đó chỉ là ý tưởng, ý đồ kinh doanh. Giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn "khai sinh" doanh nghiệp mới. Hầu hết các công ty trong giai đoạn này sẽ cần vượt qua thử thách: chấp nhận thị trường và theo đuổi 1 thời cơ thích hợp riêng biệt. Trong giai đoạn này chủ các doanh nghiệp nên cẩn trọng, không nên rải các nguồn tài chính quá mỏng.

Điểm trọng tâm của giai đoạn này làm sao chọn thời cơ kinh doanh phù hợp với kỹ năng, kinh nghiệm và niềm đam mê để khởi nghiệp. Và cũng đừng quên những điểm mấu chốt quan trọng khác đó là: quyết định chọn cơ cấu quyền sở hữu doanh nghiệp, tìm cố vấn chuyên nghiệp, và lập kế hoạch kinh doanh.

Những nguồn tài chính cho việc phát triển trong giai đoạn này có thể rất khó khăn để định vị. Bởi lẽ ở giai đoạn này, doanh nghiệp sẽ phải tự tìm kiếm thị trường, khách hàng cho chính mình. Doanh nghiệp có thể sẽ phải dựa vào nguồn vốn vay mượn từ chủ sở hữu, bạn bè, gia đình, hay các nhà đầu tư cá nhân. Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể sử dụng vốn từ nguồn khác như: nhà cung cấp, khách hàng, các khoản viện trợ của chính phủ.

2. Giai đoạn khởi động

Doanh nghiệp vừa được hình thành và tồn tại một cách hợp pháp. Các sản phẩm và dịch vụ hiện đã đi vào sản xuất và đã có những khách hàng đầu tiên. Trong giai đoạn kinh doanh này, những đòi hỏi về vốn và thời gian tìm kiếm thị trường được đánh giá khá cao. Và thử thách căn bản ở đây đó là không được để những khoản tiền dù là nhỏ nhất tuột khỏi tay. Chủ doanh nghiệp phải học cách khảo sát "tính thực tế" những nhu cầu từ phía khách hàng có thể mang lại lợi nhuận và chắc chắn rằng việc kinh doanh đang đi đúng hướng.

Giai đoạn khởi động đòi hỏi doanh nghiệp phải thiết lập cơ sở khách hàng và thị trường cùng với nguồn ngân lưu được kiểm soát và theo dõi. Nguồn vốn hỗ trợ cho sự phát triển trong giai đoạn này có thể kêu gọi từ người sở hữu, bạn bè, gia đình, nhà cung cấp, khách hàng, đi vay hay các khoản viện trợ.

3. Giai đoạn phát triển


Ở giai đoạn này, doanh nghiệp đã trải qua "những năm chập chững biết đi" và nay phát triển thành một "đứa trẻ" thực sự. Các khoản doanh thu và khách hàng đang tăng lên điều đó đồng nghĩa với sự xuất hiện của những thời cơ mới cũng như những thách thức mới. Lợi nhuận sinh trưởng kéo theo tính cạnh tranh cũng tăng. Thử thách khốc liệt nhất trong giai đoạn này mà công ty phải đối mặt với đó chính là thực đơn không đổi các vấn đề đưa ra để giành lấy thời cơ và các nguồn tài chính. Để làm được điều đó đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải có phương pháp quản lý hiệu quả cao và có thể lên kế hoạch kinh doanh mới. Học hỏi để đào tạo nhân viên như thế nào cũng như việc quản lý và nghệ thuật giao phó, uỷ thác là chìa khoá cho sự thành công của giai đoạn này.

Chu trình nhịp sống tăng trưởng của các doanh nghiệp dựa trên sự vận hành của chính doanh nghiệp ấy theo một cách thức chuẩn hơn nhằm đáp ứng với khối lượng bán hàng và lượng khách hàng ngày càng tăng. Do đó doanh nghiệp cần áp dụng những hệ thống quản lý, phương pháp tính toán và vận hành tốt hơn. Đồng thời doanh nghiệp cũng cần tìm kiếm và tuyển dụng những nhân viên có khả năng xử lý tốt các vấn đề phát sinh trong quá trình kinh doanh. Nguồn vốn doanh nghiệp có thể tận dụng trong giai đoạn này đó là vay từ ngân hàng, từ lợi nhuận, đối tác, viện trợ và những lựa chọn cho thuê.

4. Giai đoạn ổn định

Trong giai đoạn thiết lập việc kinh doanh của công ty dường như đã "chín" và phát đạt với số lượng khách hàng trung thành chiếm vị trí trên thương trường. Tăng trưởng bán hàng không còn bùng nổ như trước nhưng vẫn duy trì trong tầm kiểm soát. Việc kinh doanh cũng trở thành một "thói quen" với các tiến trình tại chỗ nhằm bảo đảm cho tính kiên định, lâu dài đối với sự phát triển của doanh nghiệp.

Giai đoạn này doanh nghiệp có thể "tạm nghỉ ngơi" và hài lòng với những thành tích đã đạt được. Chủ doanh nghiệp đã làm việc cật lực và cũng cần thư giãn, tuy nhiên thương trường vô cùng tàn nhẫn, khốc liệt và mang tính cạnh tranh cao. Do vậy doanh nghiệp cần có một điểm tựa vững mạnh hơn trong hình ảnh lớn hơn. Những vấn đề như nhân tố kinh tế, tính cạnh tranh hay sự thay đổi thị yếu của khách hàng cũng như xu hướng có thể nhanh chóng làm cho mọi cố gắng trên của doanh nghiệp trở thành “công cốc công cò”. Do vậy chu trình nhịp sống của doanh nghiệp được thiết lập sẽ phải dựa trên những cải tiến và hoạt động năng suất.

Để có thể cạnh tranh được với thị trường vốn, chủ doanh nghiệp sẽ cần đến những hoạt động kinh doanh tốt hơn và quy mô lớn hơn cùng với kỹ thuật tự động hoá và đổi mới các thiết bị nhằm cải thiện năng suất kinh doanh. Nguồn vốn cho giai đoạn này có thể lấy từ các khoản lợi nhuận, vay ngân hàng, nhà đầu tư và các khoản viện trợ của chính phủ. Con đường kinh doanh gồm 7 giai đoạn nhưng không phải chúng diễn ra theo trình tự. Một số doanh nghiệp mới được thành lập nhưng chuyển từ giai đoạn khởi động đến tan rã rất nhanh.

5. Giai đoạn mở rộng


Sự tăng trưởng mới trong thị trường mới và các kênh phân phối là những đặc trưng cơ bản dễ thấy trong giai đoạn này. Đây là giai đoạn cho sự lựa chọn của các ông chủ doanh nghiệp nhỏ nhằm chiếm lĩnh những phần lớn hơn của cổ phần thị trường và tìm kiếm nguồn doanh thu mới cũng như các kênh kinh doanh khác mang lại lợi nhuận. Việc mở rộng vào những thị trường mới đòi hỏi sự nghiên cứu và lên kế hoạch cho việc kinh doanh ở giai đoạn "gieo hạt" và "khởi động". Chủ doanh nghiệp nên tập trung những công việc kinh doanh mạo hiểm một chút. Điều này sẽ làm giàu thêm khả năng hiện tại và kinh nghiệm của chính họ.

Tiến lên phía trước lao vào những lĩnh vực kinh doanh mới không liên quan có thể là cách thử sức với những thử thách tàn khốc. Cụ thể là doanh nghiệp nên tăng thêm những sản phẩm, dịch vụ mới và tung ra thị trường hiện tại hay mở rộng những sản phẩm dịch vụ đã có vào thị trường mới, vào các đối tượng khách hàng khác nhau và hoặc thị trường định hướng tới. Nguồn vốn cho giai đoạn mở rộng có thể lấy từ liên doanh, các ngân hàng, nhà đầu tư mới, đối tác.

6. Giai đoạn suy thoái

Những thay đổi về điều kiện thị trường, xã hội, nền kinh tế có thể làm giảm số lượng bán hàng, do đó lợi nhuận cũng giảm theo. Vấn đề này có thể làm cho nhiều doanh nghiệp nhỏ phá sản nhanh hơn. Bởi các doanh nghiệp trong giai đoạn này sẽ phải đương đầu với rất nhiều thử thách như lợi nhuận và doanh số bán hàng suy giảm, dòng ngân lưu có thể rơi vào tình trạng thâm hụt. Vấn đề lớn nhất đó là kéo dài thời gian để doanh nghiệp có thể hỗ trợ cho dòng ngân lưu đang không mấy khả quan này.

Chủ doanh nghiệp có thể bắt đầu tự hỏi liệu đã đến lúc chuyển sang giai đoạn cuối cùng của chu trình nhịp sống doanh nghiệp - giai đoạn từ bỏ (tan rã) hay chưa. Họ cũng nên tìm kiếm những cơ hội mới, những mạo hiểm kinh doanh mới. Biện pháp cắt giảm chi phí và tìm ra những hướng đi mới nhằm mở rộng dòng ngân lưu là những việc làm cấp bách, cần thiết cho giai đoạn này. Nguồn vốn có thể huy động từ nhà cung cấp, khách hàng, những người sở hữu.

7. Giai đoạn tan rã

Giai đoạn này là thời điểm toàn bộ cả năm cố gắng và làm việc vất vả lao vào kinh doanh đồng khởi ra đi, hoặc nó có thể hiểu đơn giản là chấm dứt công việc kinh doanh toàn bộ. Việc bán doanh nghiệp là điều khó tránh khỏi, nó đòi hỏi phải đánh giá thực tế tình hình công ty kỹ càng. Những năm làm việc cật lực để xây dựng công ty đôi khi thật khó khăn nén lại để xem xét đánh giá tình hình thực tế để quyết định đâu là giá trị đích thực của công ty (vị thế của công ty) trong thương trường hiện tại.

Nếu một ông chủ doanh nghiệp bắt đầu tìm cách để đóng cửa doanh nghiệp, thì ông ta sẽ phải đối mặt với thử thách liên quan đến vấn đề tài chính và tâm lý của sự thua lỗ. Đó là việc cần thiết để có được giá trị đích thực và chuyên nghiệp của công ty. Chủ doanh nghiệp cũng nên xem xét cách vận hành, rào cản cạnh tranh và cách quản lý sao cho công ty có thể đáp ứng và làm hài lòng khách hàng.

Trong giai đoạn này, việc thiết lập văn bản thoả thuận mua bán hợp pháp cùng với kế hoạch chuyển nhượng kinh doanh là điều rất quan trọng. Và nguồn vốn cho giai đoạn này chính là đối tác đánh giá kinh doanh. Các cố vấn tài chính và kế toán có thể đưa ra chiến lược thuế tốt nhất để quyết định xem nên bán hay đóng cửa doanh nghiệp.

Chú ý

Các giai đoạn của chu trình nhịp sống doanh nghiệp chắc chắn sẽ không xảy ra theo trình tự. Một số doanh nghiệp mới được thành lập nhưng chuyển từ giai đoạn khởi động đến tan rã rất nhanh. Số khác có thể không tiến đến giai đoạn mở rộng và chỉ dừng ở giai đoạn ổn định. Thành công rực rỡ hay thẩt bại thảm hại trong kinh doanh là tuỳ thuộc vào tài năng của chủ doanh nghiệp thích nghi với các thay đổi của chu trình cuộc sống.

Điều mà họ nên làm là tập trung và áp dụng các biện pháp nhằm giúp công ty vượt qua giai đoạn khó khăn đó. Và những biện pháp này sẽ có tác động đến công ty sau này. Hiểu được việc áp dụng những giai đoạn nào trong chu trình kinh doanh là thích hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được bất kỳ thách thức nào phía trước và đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn.
www.SAGA.vn - september | Nguồn Vnbrand

Cách mở công ty không cần vốn

0 nhận xét
Câu trả lời cho bạn là: duy trì công việc hiện tại, để bảo đảm thu nhập ổn định. Làm việc ngày thường rồi thành lập công ty và kinh doanh tư nhân lúc chiều tối và cuối tuần.

Sau đây là vài gợi ý để bạn thành lập doanh nghiệp nhỏ tốn ít vốn.

1. Kinh doanh trực tuyến.

Có nhiều điều cần lưu ý khi kinh doanh trực tuyến. Nhưng, ưu điểm rõ ràng nhất là việc tốn ít vốn: không phải tốn tiền xây hàng quán, mua nội thất, thuê kho bãi, trả lương nhân công…

Hơn thế nữa, khi kinh doanh trực tuyến, bạn có thể dễ dàng coi sóc website 24/7. Bất cứ hoạt động kinh doanh nào cũng bắt đầu bằng ý tưởng độc đáo. Bạn lên lướt web, vào xem các webiste, tìm kiếm ý tưởng mới lạ rồi bàn thảo với bạn bè, người thân để lập kế hoạch sơ lược. Tiếp sau đó, bắt đầu xây dựng website. Những website như blog của mạng xã hội hoàn toàn miễn phí. Bạn chỉ cần có danh sách các sản phẩm từ một đại lý bán sỉ mình tin dùng và có hàng hóa đa dạng, phù hợp. Rồi xây dựng chương trình thanh toán trực tuyến, biến website thành trung gian giữa đại lý và người mua hàng.

Bên cạnh đó, tiếp thị trực tuyến cũng rẻ và đem lại hiệu quả cao. Cơ bản có tiếp thị qua e-mail, mạng xã hội, công cụ tìm kiếm trực tuyến, mạng internet điện thoại di động…

2. Kinh doanh dịch vụ

Nếu có ý kinh doanh nhỏ ít vốn, bạn nên cân nhắc đến ngành dịch vụ thay vì sản xuất vì chỉ cần bỏ thời gian mà không phải mất tiền xây dựng cơ sở vật chất. Ví dụ cụ thể, nếu tiệm chuyên cung cấp thiết bị cho spa thì phải có vốn mua hàng và tốn tiền thuê kho bãi trữ hàng.

Còn nếu là kinh doanh dịch vụ dọn dẹp spa, thì chỉ cần thời gian, công sức và ít chai nước tẩy rửa. Có hàng ngàn dịch vụ kinh doanh mà bạn có thể bắt đầu chẳng với chút đồng vốn nào, như: lau dọn cửa sổ, cắt tóc... Mở Những Trang Vàng để tìm gợi ý các ngành dịch vụ.

3. Kinh doanh tại nhà.

Vừa tiết kiệm được tiền thuê mướn mặt bằng, nhà xưởng, vừa có thể xoay thời gian cho phù hợp với công việc cố định và sinh hoạt gia đình.

4. Kinh doanh bán thời gian.

Vừa giữ công việc cố định, vừa mở doanh nghiệp riêng là điều mọi doanh nghiệp bắt đầu lập công ty nhỏ đều mơ ước. Tốn ít tiền, mà được nhiều kinh nghiệm. Làm bán thời gian coi như bước đệm để bạn thử thực tế ngành kinh doanh đó có phù hợp và đem lại lợi nhuận nhiều như ý?

Sau đó, mới quyết định đổi ngành kinh doanh hoặc dấn sâu vào kinh doanh toàn thời gian.

www.SAGA.vn - sanshou | Nguồn DNSG

Lời khuyên cho người mới khởi nghiệp

0 nhận xét
Tôi viết cho chuyên mục Doanh nghiệp trẻ của Entrepreneur.com bởi dường như có quá ít các nguồn kiến thức thực tế để giúp các doanh nhân mới khởi nghiệp giải quyết những thử thách và khó khăn mà họ có thể gặp phải trên đường phát triển. Tôi luôn khuyến khích các doanh nghiệp trẻ gây dựng cơ đồ và có thể cố vấn, giúp đỡ thế hệ kế tiếp chinh phục giấc mơ của họ. Chính những kiến thức được truyền từ thế hệ doanh nhân này sang thế hệ doanh nhân khác sẽ tạo ra cái nhìn sâu sắc, là nền tảng của sự thành công của những doanh nhân khởi nghiệp trong tương lai. Dưới đây cũng chính là những gì mà tôi đã mong muốn được biết khi thành lập doanh nghiệp đầu tiên của mình.
1. Tập trung. Tập trung. Tập Trung
Nhiều doanh nhân nghĩ rằng mình luôn phải nắm bắt mọi cơ hội có được. Tuy thế, nhiều cơ hội kinh doanh cũng thường là con sói trong lốt cừu non. Đừng quan tâm quá nhiều tới những thứ bên lề. Việc ôm đồm quá nhiều sẽ làm sức mạnh của bạn giảm đi, dẫn đến hạn chế cả hiệu quả và năng suất. Tốt nhất là làm được một việc trọn vẹn, hoàn hảo, còn hơn là làm 10 việc một lúc mà việc nào cũng làng nhàng. Bất cứ khi nào bạn cảm thấy cần phải nhảy sang một dự án khác cũng có nghĩa rằng ý tưởng ban đầu của bạn đang có vấn đề.

2. Biết việc mình làm, làm việc mình biết
Đừng bắt đầu kinh doanh chỉ bởi bạn cảm thấy nó có vẻ hấp dẫn hay có thể đem lại lợi nhuận lớn, mà hãy bắt đầu từ những gì bạn yêu thích. Công việc kinh doanh được gây dựng nên từ chính những điểm mạnh và tài năng của bạn sẽ có khả năng thành công cao hơn. Kinh doanh tạo ra lợi nhuận cũng quan trọng đấy, nhưng cảm giác vui vẻ, hạnh phúc, thỏa mãn khi những gì mình tâm huyết đang phát triển mạnh mẽ hơn mỗi ngày còn là điều quan trọng hơn. Nếu trái tim bạn không dành cho công việc ấy, chắc chắn bạn sẽ không thể đạt được thành công.

3. Ngắn gọn trong 30 giây hoặc đơn giản là không nói gì cả
Khi có cơ hội gặp gỡ với một nhà đầu tư hay một khách hàng đang tìm hiểu, hãy luôn luôn sẵn sàng để quảng bá về công việc kinh doanh của bạn. Nói rõ những sứ mệnh, dịch vụ và mục đích mà bạn hướng tới một cách rõ ràng, ngắn gọn, súc tích. Hãy chọn cách nói phù hợp với người nghe, hơn là cố gắng nói nhiều hơn, với nhiều người hơn.

4. Biết mình biết gì, biết mình không biết gì, và biết rằng ai biết những điều mình không biết
Chắc chắn trong cuộc sống này chẳng có ai có thể biết hết mọi thứ, nên đừng bao giờ tỏ ra mình là Biết-tuốt. Hãy tập hợp quanh mình những cố vấn, những người sẽ bồi dưỡng bạn thành một lãnh đạo tốt hơn, một doanh nhân thành đạt hơn. Tìm kiếm thành công, kiến thức ở những người mà bạn có chung mối quan tâm cũng như những người nhận thấy có thể nhận được lợi ích khi làm việc với bạn dài hạn.

5. Hành xử như một người mới khởi nghiệp
Hãy tạm gạt những yêu cầu xa xỉ về văn phòng tiện nghi, xe hạng sang hay những khoản chi phí phù phiếm to lớn, trong khi sự sống của công ty bạn vẫn còn phụ thuộc vào ví tiền của bạn. Hãy thực hành và hoàn thiện nghệ thuật tiết kiệm, cẩn trọng với từng đồng, và cũng như uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, hãy uốn tay bảy lần trước khi tiêu bất cứ một khoản nào. Duy trì một chi phí thấp và quản lý dòng tiền của bạn thật hiệu quả.

6. Học từ thực tế
Không một cuốn sách kinh doanh, kế hoạch kinh doanh nào có thể dự đoán chắc chắn được tương lai, hoặc trang bị đầy đủ kiến thức cho bạn để có thể trở thành một doanh nhân thành công. Cũng không bao giờ có một kế hoạch hoàn hảo, không có con dường hoàn hảo, không có đường tắt. Tất nhiên, đừng bao giờ nhảy vào giữa một công việc kinh doanh mới mà không có bất kỳ ý niệm nào về nó hay một kế hoạch cụ thể với nó, nhưng cũng đừng mất đến hàng tháng, hàng năm chỉ để ôm cây đợi thỏ. Bạn sẽ dần trở thành doanh nhân thành công chính nhờ va chạm thực tế, quan trọng nhất là bạn phải học hỏi từ những sai lầm và không bao giờ mắc một sai lầm đến lần thứ hai.

7. Sẽ không ai đem tiền cho bạn đâu
Thực thế, khi khởi nghiệp, sẽ không ai đưa không tiền cho bạn đâu. Nếu ngay từ đầu bạn cần một nguồn vốn lớn để bắt đầu đầu tư, kế hoạch của bạn cần phải xem xét lại. Tìm một điểm để bắt đầu thay vì cố chọn điểm kết thúc. Giảm quy mô cũng như các chí phí đắt đỏ. Hãy đơn giản hóa các ý tưởng cho đến khi bạn có thể quản lý nó một cách dễ dàng, tìm cách để kế hoạch hóa mô hình kinh doanh của bạn trên một ngân sách eo hẹp. Nếu bạn muốn tìm kiếm đầu tư, hãy chứng minh được giá trị của mình trước đã. Nếu ý tưởng của bạn thành công một cách hiện hữu, cơ hội huy động vốn từ các nhà đầu tư sẽ được cải thiện đáng kể.

8. Hãy giữ gìn sức khỏe
Không, tôi không phải là mẹ của bạn đâu nhé. Nhưng tôi đảm bảo rằng bạn sẽ làm việc hiệu quả hơn nếu tự biết chăm sóc cho mình. Công việc kinh doanh cũng chính là một phong cách sống. Nếu cứ làm việc đến kiệt sức, bạn sẽ tự đốt cháy bản thân mình và công việc cũng sẽ kém hiệu quả hơn. Đừng lý do lý trấu gì nữa, hay ăn uống hợp lý, tập thể dục và dành thời gian cho riêng mình.

9. Đừng trở thành nạn nhân của công việc kinh doanh
Lời nói không quan trọng bằng việc làm. Hãy khẳng định giá trị của bạn thông qua những gì bạn có thể đạt được thay vì những lời ba hoa bốc phét. Hãy cho khách hàng và các nhà đầu tư thấy rằng doanh nghiệp của bạn nhiệt tình mà vẫn trang nhã, thân thiện nhưng không vồ vập. Tránh làm mất lòng tin bằng cách tô vẽ những mục tiêu cao xa nhưng không chắc chắn. Tóm lại, hoặc là bạn chắc chắn làm được, hoặc là nên im lặng.

10. Biết rằng lúc nào cần phải dừng lại
Ngược lại với những gì người ta thường nói, người thuyền trưởng sáng suốt không phải là người sẽ ở lại và chìm nghỉm cùng con tàu. Đừng làm những việc ngu ngốc chỉ để thỏa mãn cái tôi của mình, tỏ ra mình anh hùng mã thượng, vậy nên cũng phải biết lúc nào cần rút chân khỏi vùng bùn. Nếu ý tưởng của bạn đang tỏ ra thất bại ngày một rõ ràng, chứng tỏ bạn đã làm gì đó sai. Hãy xem lại mình có thể làm gì khác. Rút ra bài học từ những thất bại của chính mình sẽ là hành trang tốt hơn cho bạn và cho những công việc kinh doanh sau này. Thất bại là không thể tránh khỏi, nhưng một doanh nhân đích thực là người sẽ trưởng thành từ những nghịch cảnh.
www.saga.vn| nooneknow dịch từ Entrepreneur.com

Lời khuyên cho người mới khởi nghiệp

0 nhận xét
Tôi viết cho chuyên mục Doanh nghiệp trẻ của Entrepreneur.com bởi dường như có quá ít các nguồn kiến thức thực tế để giúp các doanh nhân mới khởi nghiệp giải quyết những thử thách và khó khăn mà họ có thể gặp phải trên đường phát triển. Tôi luôn khuyến khích các doanh nghiệp trẻ gây dựng cơ đồ và có thể cố vấn, giúp đỡ thế hệ kế tiếp chinh phục giấc mơ của họ. Chính những kiến thức được truyền từ thế hệ doanh nhân này sang thế hệ doanh nhân khác sẽ tạo ra cái nhìn sâu sắc, là nền tảng của sự thành công của những doanh nhân khởi nghiệp trong tương lai. Dưới đây cũng chính là những gì mà tôi đã mong muốn được biết khi thành lập doanh nghiệp đầu tiên của mình.
1. Tập trung. Tập trung. Tập Trung
Nhiều doanh nhân nghĩ rằng mình luôn phải nắm bắt mọi cơ hội có được. Tuy thế, nhiều cơ hội kinh doanh cũng thường là con sói trong lốt cừu non. Đừng quan tâm quá nhiều tới những thứ bên lề. Việc ôm đồm quá nhiều sẽ làm sức mạnh của bạn giảm đi, dẫn đến hạn chế cả hiệu quả và năng suất. Tốt nhất là làm được một việc trọn vẹn, hoàn hảo, còn hơn là làm 10 việc một lúc mà việc nào cũng làng nhàng. Bất cứ khi nào bạn cảm thấy cần phải nhảy sang một dự án khác cũng có nghĩa rằng ý tưởng ban đầu của bạn đang có vấn đề.

2. Biết việc mình làm, làm việc mình biết
Đừng bắt đầu kinh doanh chỉ bởi bạn cảm thấy nó có vẻ hấp dẫn hay có thể đem lại lợi nhuận lớn, mà hãy bắt đầu từ những gì bạn yêu thích. Công việc kinh doanh được gây dựng nên từ chính những điểm mạnh và tài năng của bạn sẽ có khả năng thành công cao hơn. Kinh doanh tạo ra lợi nhuận cũng quan trọng đấy, nhưng cảm giác vui vẻ, hạnh phúc, thỏa mãn khi những gì mình tâm huyết đang phát triển mạnh mẽ hơn mỗi ngày còn là điều quan trọng hơn. Nếu trái tim bạn không dành cho công việc ấy, chắc chắn bạn sẽ không thể đạt được thành công.

3. Ngắn gọn trong 30 giây hoặc đơn giản là không nói gì cả
Khi có cơ hội gặp gỡ với một nhà đầu tư hay một khách hàng đang tìm hiểu, hãy luôn luôn sẵn sàng để quảng bá về công việc kinh doanh của bạn. Nói rõ những sứ mệnh, dịch vụ và mục đích mà bạn hướng tới một cách rõ ràng, ngắn gọn, súc tích. Hãy chọn cách nói phù hợp với người nghe, hơn là cố gắng nói nhiều hơn, với nhiều người hơn.

4. Biết mình biết gì, biết mình không biết gì, và biết rằng ai biết những điều mình không biết
Chắc chắn trong cuộc sống này chẳng có ai có thể biết hết mọi thứ, nên đừng bao giờ tỏ ra mình là Biết-tuốt. Hãy tập hợp quanh mình những cố vấn, những người sẽ bồi dưỡng bạn thành một lãnh đạo tốt hơn, một doanh nhân thành đạt hơn. Tìm kiếm thành công, kiến thức ở những người mà bạn có chung mối quan tâm cũng như những người nhận thấy có thể nhận được lợi ích khi làm việc với bạn dài hạn.

5. Hành xử như một người mới khởi nghiệp
Hãy tạm gạt những yêu cầu xa xỉ về văn phòng tiện nghi, xe hạng sang hay những khoản chi phí phù phiếm to lớn, trong khi sự sống của công ty bạn vẫn còn phụ thuộc vào ví tiền của bạn. Hãy thực hành và hoàn thiện nghệ thuật tiết kiệm, cẩn trọng với từng đồng, và cũng như uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, hãy uốn tay bảy lần trước khi tiêu bất cứ một khoản nào. Duy trì một chi phí thấp và quản lý dòng tiền của bạn thật hiệu quả.

6. Học từ thực tế
Không một cuốn sách kinh doanh, kế hoạch kinh doanh nào có thể dự đoán chắc chắn được tương lai, hoặc trang bị đầy đủ kiến thức cho bạn để có thể trở thành một doanh nhân thành công. Cũng không bao giờ có một kế hoạch hoàn hảo, không có con dường hoàn hảo, không có đường tắt. Tất nhiên, đừng bao giờ nhảy vào giữa một công việc kinh doanh mới mà không có bất kỳ ý niệm nào về nó hay một kế hoạch cụ thể với nó, nhưng cũng đừng mất đến hàng tháng, hàng năm chỉ để ôm cây đợi thỏ. Bạn sẽ dần trở thành doanh nhân thành công chính nhờ va chạm thực tế, quan trọng nhất là bạn phải học hỏi từ những sai lầm và không bao giờ mắc một sai lầm đến lần thứ hai.

7. Sẽ không ai đem tiền cho bạn đâu
Thực thế, khi khởi nghiệp, sẽ không ai đưa không tiền cho bạn đâu. Nếu ngay từ đầu bạn cần một nguồn vốn lớn để bắt đầu đầu tư, kế hoạch của bạn cần phải xem xét lại. Tìm một điểm để bắt đầu thay vì cố chọn điểm kết thúc. Giảm quy mô cũng như các chí phí đắt đỏ. Hãy đơn giản hóa các ý tưởng cho đến khi bạn có thể quản lý nó một cách dễ dàng, tìm cách để kế hoạch hóa mô hình kinh doanh của bạn trên một ngân sách eo hẹp. Nếu bạn muốn tìm kiếm đầu tư, hãy chứng minh được giá trị của mình trước đã. Nếu ý tưởng của bạn thành công một cách hiện hữu, cơ hội huy động vốn từ các nhà đầu tư sẽ được cải thiện đáng kể.

8. Hãy giữ gìn sức khỏe
Không, tôi không phải là mẹ của bạn đâu nhé. Nhưng tôi đảm bảo rằng bạn sẽ làm việc hiệu quả hơn nếu tự biết chăm sóc cho mình. Công việc kinh doanh cũng chính là một phong cách sống. Nếu cứ làm việc đến kiệt sức, bạn sẽ tự đốt cháy bản thân mình và công việc cũng sẽ kém hiệu quả hơn. Đừng lý do lý trấu gì nữa, hay ăn uống hợp lý, tập thể dục và dành thời gian cho riêng mình.

9. Đừng trở thành nạn nhân của công việc kinh doanh
Lời nói không quan trọng bằng việc làm. Hãy khẳng định giá trị của bạn thông qua những gì bạn có thể đạt được thay vì những lời ba hoa bốc phét. Hãy cho khách hàng và các nhà đầu tư thấy rằng doanh nghiệp của bạn nhiệt tình mà vẫn trang nhã, thân thiện nhưng không vồ vập. Tránh làm mất lòng tin bằng cách tô vẽ những mục tiêu cao xa nhưng không chắc chắn. Tóm lại, hoặc là bạn chắc chắn làm được, hoặc là nên im lặng.

10. Biết rằng lúc nào cần phải dừng lại
Ngược lại với những gì người ta thường nói, người thuyền trưởng sáng suốt không phải là người sẽ ở lại và chìm nghỉm cùng con tàu. Đừng làm những việc ngu ngốc chỉ để thỏa mãn cái tôi của mình, tỏ ra mình anh hùng mã thượng, vậy nên cũng phải biết lúc nào cần rút chân khỏi vùng bùn. Nếu ý tưởng của bạn đang tỏ ra thất bại ngày một rõ ràng, chứng tỏ bạn đã làm gì đó sai. Hãy xem lại mình có thể làm gì khác. Rút ra bài học từ những thất bại của chính mình sẽ là hành trang tốt hơn cho bạn và cho những công việc kinh doanh sau này. Thất bại là không thể tránh khỏi, nhưng một doanh nhân đích thực là người sẽ trưởng thành từ những nghịch cảnh.
www.saga.vn| nooneknow dịch từ Entrepreneur.com

Cách mở công ty không cần vốn

0 nhận xét
Câu trả lời cho bạn là: duy trì công việc hiện tại, để bảo đảm thu nhập ổn định. Làm việc ngày thường rồi thành lập công ty và kinh doanh tư nhân lúc chiều tối và cuối tuần.

Sau đây là vài gợi ý để bạn thành lập doanh nghiệp nhỏ tốn ít vốn.

1. Kinh doanh trực tuyến.

Có nhiều điều cần lưu ý khi kinh doanh trực tuyến. Nhưng, ưu điểm rõ ràng nhất là việc tốn ít vốn: không phải tốn tiền xây hàng quán, mua nội thất, thuê kho bãi, trả lương nhân công…

Hơn thế nữa, khi kinh doanh trực tuyến, bạn có thể dễ dàng coi sóc website 24/7. Bất cứ hoạt động kinh doanh nào cũng bắt đầu bằng ý tưởng độc đáo. Bạn lên lướt web, vào xem các webiste, tìm kiếm ý tưởng mới lạ rồi bàn thảo với bạn bè, người thân để lập kế hoạch sơ lược. Tiếp sau đó, bắt đầu xây dựng website. Những website như blog của mạng xã hội hoàn toàn miễn phí. Bạn chỉ cần có danh sách các sản phẩm từ một đại lý bán sỉ mình tin dùng và có hàng hóa đa dạng, phù hợp. Rồi xây dựng chương trình thanh toán trực tuyến, biến website thành trung gian giữa đại lý và người mua hàng.

Bên cạnh đó, tiếp thị trực tuyến cũng rẻ và đem lại hiệu quả cao. Cơ bản có tiếp thị qua e-mail, mạng xã hội, công cụ tìm kiếm trực tuyến, mạng internet điện thoại di động…

2. Kinh doanh dịch vụ

Nếu có ý kinh doanh nhỏ ít vốn, bạn nên cân nhắc đến ngành dịch vụ thay vì sản xuất vì chỉ cần bỏ thời gian mà không phải mất tiền xây dựng cơ sở vật chất. Ví dụ cụ thể, nếu tiệm chuyên cung cấp thiết bị cho spa thì phải có vốn mua hàng và tốn tiền thuê kho bãi trữ hàng.

Còn nếu là kinh doanh dịch vụ dọn dẹp spa, thì chỉ cần thời gian, công sức và ít chai nước tẩy rửa. Có hàng ngàn dịch vụ kinh doanh mà bạn có thể bắt đầu chẳng với chút đồng vốn nào, như: lau dọn cửa sổ, cắt tóc... Mở Những Trang Vàng để tìm gợi ý các ngành dịch vụ.

3. Kinh doanh tại nhà.

Vừa tiết kiệm được tiền thuê mướn mặt bằng, nhà xưởng, vừa có thể xoay thời gian cho phù hợp với công việc cố định và sinh hoạt gia đình.

4. Kinh doanh bán thời gian.

Vừa giữ công việc cố định, vừa mở doanh nghiệp riêng là điều mọi doanh nghiệp bắt đầu lập công ty nhỏ đều mơ ước. Tốn ít tiền, mà được nhiều kinh nghiệm. Làm bán thời gian coi như bước đệm để bạn thử thực tế ngành kinh doanh đó có phù hợp và đem lại lợi nhuận nhiều như ý?

Sau đó, mới quyết định đổi ngành kinh doanh hoặc dấn sâu vào kinh doanh toàn thời gian.

www.SAGA.vn - sanshou | Nguồn DNSG

Tìm kiếm thông tin