Hiển thị các bài đăng có nhãn Technical advice. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Technical advice. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 6, 2012

Phương pháp giảm độ ẩm trong điều hòa

0 nhận xét
 Làm khô (giảm ẩm) cho không khí.  
Trong đời sống và công nghiệp, nhiều lúc đòi hỏi giảm độ ẩm của không khí , chẳng hạn như trong một số phân xưởng chế tạo các thiết bị đặc biệt đòi hỏi độ ẩm nhỏ. Ví dụ chế tạo máy biến áp, linh kiện điện tử vv. . . Giảm ẩm cho không khí là quá trình rút một phần hơi ẩm  trong không khí nhằm giảm độ  ẩm (dung ẩm) cho nó. Quá trình đó thường được thực hiện bằng cách ngưng kết hơi nước trên các bề mặt nhiệt độ thấp hoặc nhờ các loại hoá chất đặc biệt.
 Làm khô bằng dàn lạnh.  
Quá trình làm lạnh không khí thường kèm theo làm khô nó, do hơi ẩm trong không khí ngưng kết lại trên bề mặt của thiết bị. Tuy nhiên không phải bao giờ làm lạnh cũng kèm theo làm khô, điều kiện để diễn ra ngưng kết hơi ẩm là nhiệt độ bề mặt của dàn lạnh phải nhỏ hơn nhiệt độ đọng sương của không khí. Thông thường điều kiện đó luôn luôn thoả mãn do nhiệt độ của các tác nhân lạnh bên trong rất thấp. Quá trình làm khô bằng dàn dàn lạnh diễn ra theo quá trình A1.  Thường  nhu cầu giảm ẩm ít có nhu cầu trên thực tế , quá trình này thường được diễn ra kèm theo quá trình làm lạnh.
 Làm khô bằng thiết bị buồng phun.
Trong công nghiệp  ta có thể thực hiện việc giảm ẩm bằng thiết bị buồng phun. Khi phun nước lạnh có nhiệt độ nhỏ hơn nhiệt độ điểm sương của không khí thì  một phần hơi ẩm trong không khí sẽ ngưng tụ lại trên bề mặt của các giọt nước. Như vậy một một giọt nước phun óng vai trò như những bề mặt ngưng kết làm tích tụ nước và tăng khối lượng các giọt nước. Tuy nhiên đây là một quá trình phức tạp nên rất khó khống chế và điều khiển.
Làm khô bằng máy hút ẩm. 
Người ta có thể thực hiện việc giảm ẩm trong một không gian bằng máy hút ẩm. Máy hút ẩm có các thiết bị như một máy điều hoà dạng cửa sổ, nhưng các dàn nóng và dàn lạnh được bố trí khác đi. Trong máy hút ẩm không khí vào một đầu và ra đầu kia sau khi chuyển động qua dàn lạnh và dàn nóng.  71 Quá trình thực hiện như sau: Không khí được quạt 2 hút đưa qua dàn lạnh 4. Ở đây thực hiện quá trình làm lạnh, làm khô A1, hơn ẩm trong không khí ngưng kết một phần rơi xuống máng 5 và chảy ra bể hứng 6. Sau đó không khí được dẫn đến dàn ngưng 3, thực hiện quá trình gia nhiệt đẳng dung ẩm, làm cho độ ẩm tương đối giảm xuống, đồng thời tăng nhiệt độ của không khí lên nhiệt độ định sẵn.

Các máy hút ẩm thường được đặt trong các phòng yêu cầu đặc biệt hoô¼ctng các nhà kho chứa các sản phẩm đặc biệt.

Quá trình thay đổi trạng thái của không khí diễn ra theo 2 giai đoạn: Quá trình làm lạnh làm khô AB ở  dàn lạnh và quá trình gia nhiệt đẳng dung ẩm BC ở dàn ngưng (hình 4-15).
Làm khô bằng hóa chất.
Trong một số trường hợp nhất định người ta có thể sử dụng các hóa chất có khả năng hút ẩm tốt như: silicagen, vôi sống, zeolit để giảm ẩm cho không khí . Nhưng phương pháp này rất hạn chế vì khả năng hút ẩm rất hạn chế, các chất đó nhanh chóng bão hòa và thường tỏa nhiệt và ảnh hưởng nhất định đến không gian điều hòa. Trên đồ thị I-d quá trình hút ẩm không khí bằng hoá chất diễn ra theo đường A9.

Nguồn : http://www.nhathaucodienlanh.com

Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2011

LÀM MÁT BẰNG QUẠT VÀ THÔNG GIÓ (Phần 2)

0 nhận xét
Đối lưu cưỡng bức
Khi bạn biết làm thế nào dòng khí lưu thông dọc trong nhà, bạn có thể tối ưu hóa việc đối lưu cưỡng bức.
Với những thời tiết nóng hơn, đối lưu tự nhiên không thể luân chuyển đủ lượng khí dọc trong nhà để làm mát ban đêm để dời lượng nhiệt ban ngày đi. Đối lưu cưỡng bức có thể cung cấp dòng khí liên tục làm cho nhà mát hơn, ngày và đêm, với quạt thường, quạt tổng và/hoặc thiết bị bay hơi làm lạnh.
Chất lượng và hiệu quả năng lượng của những thiết bị này thay đổi rất rộng. Mua một cách cẩn thận – có thể tốt nhất là mua từ người bán chuyên môn hơn là từ một cửa hàng dụng cụ.
Quạt thường
Quạt thường bao gồm quạt trần, quạt bànm quạt sàn, quạt cửa sổ và quạt gắn trên tường hay góc nhà. Những loại quạt này tạo ra hiệu ứng làm lạnh có thể làm bạn cảm thấy thoải mái hơn, mặc dù nếu đã được làm mát bằng đối lưu tự nhiên hay bằng máy điều hòa.
Quạt trần
Nếu bạn sử dụng máy điều hòa, quạt trần sẽ cho phép nâng cao chế độ cài đặt thermostat khoảng 40F mà vẫn thoải mái. Với thời tiết nóng hay trog những ngày lạnh trung bình, quạt trần có thể giúp tránh việc sự dụng tất cả các máy điều hòa.
Table Fan
Lắp quạt trong mỗi phòng cần làm mát trong mùa nóng. Quạt hoạt động tốt nhất khi cánh khoảng 17.5 đến 22.5cm cách sàn và 25 đến 30cm cách trần. Quạt nên được lắp sao cho cánh không ít hơn 20cm cách trần và 45cm cách tường.
Quạt càng lớn thì có thể chuyển lượng khí lơn hơn. Quạt đường kính 90–110cm sẽ làm mát cho phòng 20.9m2 trong khi quạt 120cm và hơn có thể sử dụng trong các phòng lớn hơn. Sử dụng nhiều quạt có thể hoạt động tốt trong những phòng dài hơn 5.4m. Loại quạt vừa và nhỏ sẽ làm mát hiệu quả trong vòng bán kính 120-180cm , trong khi các quạut lớn hơn có thê73 hiệu quả đến 300cm
Cánh càng lớn sẽ làm mát - tại vận tốc nhỏ hơn, một lượng tương đương với loại có cánh nhỏ hơn. Điều này khá quan trọng trong những không gian có nhiều giấy tờ hay những vật dụngcó thể bị tác động xấu bởi gió mạnh. Quạt còn phải phù hợp với nét thẩm mĩ của gian phòng.
Quạt càng đắt tiền có thể hoạt động yên tĩnh hơn và nhẹ nhàng hơn sẽ đáp ứng được các yêu cầu dịch vụ hơn những loại rẻ hơn. Kiểm tra mức độ ồn và nếu có thể, lắng nghe âm thanh quạt lúc vận hành trước khi chọn mua.
Quạt cục bộ
Quạt cục bộ có thể thay thế máy điều hòa trong hầu hết các khoảng thời gian trong năm. Quạt này có thể kết hợp với quạt trần và các loại quạt nhỏ làm mát cho nhiều hộ gia đình, thậm chí trong cả mùa nóng.
Quạt cục bộ hoạt động như thế nào
Quạt cục bộ có thể hút lượng khí  từ cửa sổ mở và xả ra gác mái và mái. Giúp đối lưu trên gác mái tốt thêm vào việc đối lưu cục bộ. Có thể kiểm soát việc làm mát này đơn giản bằng cách đóng các cửa sổ trong khu vực không sử dụng và mở cửa sổ rộng với những khu vực sử dụng.
Quạt cục bộ nên cung cấp đủ 30-60 lần thay đổi lượng khí mỗi giờ (thay đổi tùy theo thời tiết, thiết kế sàn,... – thăm dò ý kiến chuyên gia để xác định loại nào phù hợp nhất). Mức độ luân chuyển khí bạn chọn phụ thuộc vào thời tiết và phụ thuộc vào quạt cục bộ. Những vùng mát hơn, có bóng râm hơn không cần nhiều sự đối lưu như những khu vực ấm hơn, nhiều nắng hơn.
Những căn hộ phụ thuộc hoàn toàn vào quạt cục bộ đòi hỏi phải có quạt lớn hơn vì không có máy điều hòa để sử dụng.
Chọn kích thước quạt cục bộ
Quạt cục bộ được định kích thước theo công suất thông gió feet3/phút (cfm). Để định kích thước cần thiết, trước tiên phải tính toán thể tích nhà theo feet3 (nhân diện tích sàn muốn làm lạnh với chiều cao từ sàn tới trần). Lấy thể tích đó nhân với 30-60 lần khí trao đổi mỗi giờ (phụ thuộc vào công suất cần thiết). Sau đó chia 60 phút để có công suất nhà cần được cấp.
Whole house fan
Lắp đặt và sử dụng quạt cục bộ
Lắp đặt quạt cục bộ khá khó khăn và cần chuyên gia để thực hiện. Việc đo đạc các kích thước gác mái, dây dẫn và khả năng lắp thêm cửa thông gió gác mái phải được người có kinh nghiệm thực hiện.
Thông gió gác mái phải được gia tăng để xả khí ra ngoài. Bạn sẽ cần từ 2-4 lần diện tích cửa thông gác mái bình thường, hoặc khoảng 1ft2 trống cho mỗi 750cfm công suất quạt. Cửa thôngcó tính đến lực cản từ louver và lưới chắn côn trùng.Diện tích cửa thông càng nhiều thì càng tối ưu cho hoạt động của quạt cục bộ.
Vài loại quạt được bít kín (hay có thể tự tạo ra). Nếu chuyển từ máy điều hòa và làm mát với quạt cục bộ khi thời tiết mùa hè thay đổi, lắp các cửa bản lề, được bít kín để dễ mở ra cho quạt và đóng khi chuyển qua phương án làm lạnh.
Hạn chế của quạt cục bộ
Quạt cục bộ có thể gây ồn, đặc biệt khi lắp không chính xác. Nói chung, quạt công suất lớn hoạt động ở tốc độ chậm gây ra ít tiếng ồn hơn quạt nhỏ hoạt động ở tốc độ cao. Tất cả các quạt cục bộ nên được lắp gắn với đệm cao su hay nỉ để giảm tiếng ồn. Có thể thiết lập quạt đa tốc độ ở chế độ tốc độ vòng quay chậm khi tiếng ồn gây nên tác động không tốt.
Thiết bị làm lạnh bay hơi
Thiết bị làm lạnh bay hơi khá thông dụng và là một lựa chọn làm mát hiệu quả trong thởi tiết khô của nước Mỹ.
Khí nóng bên ngoài bay vào thiết bị làm lạnh bay hơi. Khí này bay qua tấm nước bão hòa và nước bay hơi vào không khí. Năng lượng sử dụng để lấy nhiệt từ không khí. Dòng khí 15-400 sau đó được đưa vào nhà và đẩy khí nóng hơn ra khỏi cửa sổ. Quá trình này còn làm tăng ẩm cho dòng khí,do đó thiết bị bay hơi sử dụng tốt ở những vùng có độ ẩm tương đối thấp trong mùa hè.
Thiết bị làm lạnh bay hơi sử dụng ít hơn một phần ba năng lượng của máy điều hòa và tốn khoảng một nửa số đó để lắp đặt. Không giống như hệ thống điều hòa trung tâm luân chuyển cùng một lượng khí, thiết bị làm lạnh bay hơi cấp dòng khí tươi ổn định vào nhà.
Định kích thước và chọn lựa
Thiết bị làm lạnh bay hơi được đánh giá bằng lượng cfm khí cấp vào phòng . Hầu hết các dòng sản phẩm đều có dãi công suất từ 3000-25000cfm. Các nhà sản xuất khuyến cáo nên cung cấp đủ 20-40 lần khí thay đổi mỗi giờ, phụ thuộc vào từng loại thời tiết.
Lắp đặt
Thiết bị làm lạnh bay hơi được lắp bởi một trong hai cách: Thổi khí vào khu vực trung tâm hay thiết bị được nối với ống dẫn phân phối gió vào các phòng khác nhau. Phương án thổi vào vị trí trung tâm thích hợp cho nhà tích hợp, có các phòng thông nhau. Phương án hệ thống ống dẫn thích hợp cho các nhà lơn hơn với các lối đi và nhiều phòng ngủ.
Hầu hết nhiều người lắp thiết bị làm lạnh bay hơi thổi xuống gắn trên mái, Ngoài ra, nhiều chuyên gia thích lắp thiết bị gắn nằm ngang trên sàn – dễ dàng hơn cho việc bảo dưỡng và ít nguy cơ rò rĩ qua mái.
Các thiết bị làm lạnh nhỏ loại thổi ngang được lắp trên cửa sổ để làm lạnh phòng, khu vực trong nhà. Những loại thiết bị bay hơi làm lạnh linh động này hoạt động tốt với thời tiết trung bình, nhưng có thể làm mát thích hợp trong mùa nóng. Thiết bị làm lạnh bay hơi đang trở nên khá phổ biến ở miền Tây nước Mỹ với thời tiết hè nóng hơn. Họ có thể giảm nhiệt độ trong phòng đơn lẻ khoảng 5-150.
Vận hành
Thiết bị làm lạnh bay hơi nên có ít nhất hai tốc độ và lựa chọn một cửa thông duy nhất. Trong quá trình vận hành chế độ một cửa thông duy nhất, bơm nước không hoạt động và khí ngoài trời không được tăng ẩm. Điều này cho phép sử dụng  thiết bị như quạt cục bộ khi thời tiết ôn hòa.
Điều chỉnh dòng khí của thiết bị trong nhà  bằng cách điều chỉnh các vị trí đóng mở cửa sổ. Mở cửa sổ hay cửa thông để tạo ra 1-2 ft2 cửa thông cho mỗi 1000cfm công suất lạnh. Thí nghiệm để tìm ra cửa sổ nào cần để mở và bề rộng mở là bao nhiêu. Nếu cửa sổ mở quá xa, khí nóng sẽ xâm nhập. Nếu cửa sổ không đủ xa, độ ẩm sẽ gia tăng trong nhà. Có thể điều chỉnh cà nhiệt độ và độ ẩm
Evaporative Cooling
Hạn chế của thiết bị làm lạnh bay hơi
Thiết bị không nên sử dụng ở những vùng có thời tiết ẩm vì chúng sẽ tăng ẩm cho bầu không khí. Và nó sẽ chỉ làm mát nhà xuống nhiệt độ cao hơn máy điều hòa. Chúng còn cần bảo dưỡng mỗi tháng một lần. Nếu thiết bị được gắn trên mái, sẽ dễ gây ra hư hỏng cho mái khi phải leo lên bảo dưỡng định kì. Thiết bị gắn trên mái sẽ kém hiệu quả 1 độ Farenheit so với thiết bị được che nắng. Bảo dưỡng loại gắn trên mái còn khá bất tiện do phải sử dụng thang.
Điều chỉnh thông gió trong nhà
Nhớ các điều sai nếu bạn có kế hoạch làm mát nhà bằng việc thông gió:
-          Biết đường gió tự nhiên vào nhà.
-          Tận dụng ưu điểm gió lạnh ban đêm và thông gió bằng cách tự nhiên hay cưỡng bức.
-           Giữ khoảng trống cho dòng khí cả bên trong và bên ngoài cửa sổ.
-          Đóng cửa sổ, cửa chính, màn cửa sổ vào buổi sáng trước khi nhà bắt đầu nóng lên.
-          Tránh sinh nhiệt trong nhà khi bên ngoài trời nóng.
-          Mặc đồ thông thoáng.
-          Nâng chế độ cài đặt thermostat đến nhiệt độ tiết kiệm hơn. Tắt hoàn  toàn nếu bạn đi xa trong thời gian dài.

LÀM MÁT BẰNG QUẠT VÀ THÔNG GIÓ (Phần 1)

0 nhận xét
Bạn có thể tiết kiệm năng lượng và tiền bạc khi thông gió nhà thay vì sử dụng máy điều hòa, ngoại trừ những ngày nóng nhất. Luồng khí chuyển động có thể mang đi lượng nhiệt trong nhà. Luồng gió này tạo ra hiệu ứng làm lạnh dẫn đến cơ thể bạn được làm mát.
Làm lạnh bằng cách thông gió thường được kết hợp với bóng cây và các cách xử lí cửa sổ, hệ số phản xạ mái (mái được làm màu sáng), và cách nhiệt tầng mái. Sự luân chuyển khí có thể được tạo ra bởi thông gió tự nhiên để tăng thêm sự thoải mái hoặc với máy điều hòa để tiết kiệm năng lượng.
Thông gió còn có những thuận lợi khác ngoài việc làm lạnh. Khí ô nhiễm có xu hướng tích tụ trong nhà nếu không thông gió tốt và khi nhà đóng cửa để sử dụng máy điều hòa để làm lạnh hay sưởi ấm.
alt
Nguyên lí làm lạnh
Làm lạnh cơ thể
Cơ thể có thể được làm mát nhờ vào ba quá trình: đối lưu, bức xạ và quá trình tiết mồ hôi. Thông gió làm đẩy mạnh tất cả các quá trình này.
Đối lưu xuất hiện khi nhiệt được lấy đi khỏi cơ thể thông quá luồng khí. Nếu không khí xung quanh lạnh hơn da cơ thể, khí sẽ hấp thụ nhiệt và bay lên. Khi khi nóng bay lên, khí lạnh sẽ tới chiểm chỗ luồng khí nóng ấy và hấp thụ tiếp. Luồng khí đối lưu này cành nhanh thì bạn càng cảm thấy mát.
Bức xạ xuất hiện trong không gian giữa bạn và các vật dụng trong nhà. Nếu các vật dụng nóng hơn thì nhiệt sẽ hướng về bạn. Thông gió sẽ làm giảm nhiệt độ trần, tường và các vật dụng. Xung quanh càng lạnh thì bạn càng ít hấp thụ nhiệt và lượng nhiệt thừa cơ thể càng dễ mất đi.
Hiện tượng tiết mồ hôi có thể hơi bất tiện và nhiều người sẽ thích được mát mà không bị tiết mồ hôi. Hơn nữa, trong những thời tiết nóng và tập luyện thể thao tiết mồ hôi là cơ chế làm mát cực kì hiệu quả.
Khi mồ hôi rời khỏi lỗ chân lông, nó mang theo rất nhiều nhiệt và làm mát cơ thể. Nếu luồng gió (thông gió) đi qua da, thì mồ hôi sẽ bay hơi nhanh hơn và bạn thậm chí còn mát hơn.
Nhiệt tích tụ như thế nào ?
Nhiệt tích tụ trong nhà từ nhiều nguồn và có thể làm nhiệt độ phòng tăng cao hơn bên ngoài mặc dù trong những ngày trời nóng nhất. Năng lượng mặt trời – xâm nhập vào nhà thông qua các con đường chính như mái và cửa sổ - là nguồn chính của nhiệt không mong muốn trong hầu hết các thời tiết. Các thiết bị gia đình, đèn và con người cũng sinh ra nhiệt.
Để sử dụng thông gió thay vì máy điều hòa để làm mát, bạn nên ngăn ngừa nhiệt thâm nhập và tích tụ bên trong càng nhiều càng tốt. Vài biện pháp phòng ngừa bao gồm lắp đặt cách nhiệt cho tầng mái, mái phản xạ, các mái hiên và cửa sổ chống nắng. Các thay đổi về mặt hoạt động – như giảm hoạt động của các thiết bị gia dụng, đèn và nước nóng – cũng giúp giảm nhiệt tích tụ.
Khi bạn đã ngăn nhiệt tích tụ nhiều tới mức có thể thì bắt bầu chú ý đến các phương pháp thông gió.
Đối lưu tự nhiên
Đối lưu tự nhiên phụ thuộc vào gió và ‘hiệu ứng ống khói’ để giữ cho nhà luôn mát.
Gió sẽ đối lưu tự nhiên nhà bằng cách vào và ra khỏi các cửa sổ, phụ thuộc vào sự dẫn hướng. Nhiệt tích tụ trong nhà suốt ngày, và khí lạnh ban đêm có thể lùa nó ra. Khi khí hậu khô hơn, có nghĩa là thông gió ban đêm, cửa chính, cửa sổ, rèm cửa đóng cả ngày. Điều này không áp dụng được cho khí hậu ẩm. Phụ thuộc và thiết kế nhà và hướng gió, các thứ có thể làm cho gió vào hoặc đẩy ra khỏi cửa sổ gần đó – hàng rào, hàng cây. Gió chạy dọc theo tường có thể tạo ra chân không kéo khí trong nhà ra khỏi cửa sổ.
Hiệu ứng ống khói xuất hiện khi gió lạnh vào nhà tại tầng một hay tầng hầm, hấp thụ nhiệt trong phòng, bay lên va thoát ra khỏi các cửa sổ tầng trên. Tạo ra các khoảng chân không kéo thêm không khí và các cửa sổ tầng dưới.
Đối lưu tự nhiên hoạt động tốt trong những khí hậu với gió mát mẻ của mùa hè hay về đêm.
Sử dụng cửa sổ và cửa chính cho đối lưu dọc
Cross Ventilation
Bạn có thể tạo ra đối lưu tự nhiên dọc bằng cách mở cửa sổ, cửa chính và điều chỉnh kích thước và vị trí các lối vào để thông gió cho các phần khác nhau trong nhà.
Lối vào và lối ra nằm ở vị trí đối diên nhau chỉ có thể làm mát cho không gian chính giữa và hướng của dòng khí. Bạn có thể làm mát nhiều vị trí khác nữa nếu dẫn không khí đi xa hơn giữa lối vào và lối ra. Sử dụng các cửa sổ mở nhỏ hơn cho lối vào và rộng hơn cho lối ra. Điều này sẽ làm tăng tốc độ gió và cải thiện hiệu ứng làm mát. Không khí từ nơi mát hơn và nơi có bóng râm sẽ là nguồn khí lấy vào tốt nhất.
Thí nghiệm với nhiều mẫu hoa văn cửa sổ để đưa khí tươi bên ngoài vào không gian bên trong nhà. Điều này có thể dẫn tới việc đóng vài cửa sổ nếu nó gây cản trở cho luồng khí chuyển động dọc theo lối đi dài dọc theo nhà.
Đối lưu trên gác mái
Nhiệt từ mặt trời thâm nhập qua mái nhà và bức xạ vào trong gác mái. Thông gió cho gác mái làm giảm nhiệt độ tại đây từ 10-25oC và làm chậm lại quá trình chuyển nhiệt vào trong không gian sống. Ngoài ra, cách hiệu quả nhất để giảm nhiệt độ trong gác mái là ngăn không cho nhiệt xam nhập vào bằng mái có hệ số phản xạ cao. Điều cũng rất quan trọng là phải có ít nhất cỡ 2.5cm lớp cách nhiệt trên gác mái.
Biên dịch : Hồ Thành Danh - CTV

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

CÂN BẰNG KHÍ: Bước cuối cùng của việc lắp đặt

0 nhận xét
Trong một thế giới lí tưởng, mọi kĩ sư sẽ chú ý đến sự quan trọng của ba từ: ‘’cân bằng khí’’. Khái niệm được biết đến khá rộng rãi về phía thương mại của kinh doanh, nhưng rất ít phần trăm các căn hộ gia đình có được sự cân bằng này. Và thật đáng tiếc, lượng khí hợp lí phân phối vào mỗi phòng tác động đáng kể tới cả sự thoải mái của khách hàng và hiệu quả sử dụng năng lượng.
Nhiều kĩ thuật viên chú ý vào việc lắp đặt sao cho nhanh chóng nhất hơn việc sao cho chất lượng nhất. Hệ thống ống dẫn không vừa ? Không phải là vấn đề lớn, chỉ đơn giản thay ống nhỏ hơn cho vừa. Họ không biết sự thay đổi đó tác động như thế nào lên hệ thống. Ống dẫn được thiết kế chính xác kích thước để chuyển dời một lượng khí nhất định. Thay đổi nó có thể tác động tới lưu lượng và vận tốc khí, cả hai đều tác động đến sự thoải mái và hiệu quả.
Có nhiều nơi đào tạo ‘’cân bằng khí’’ và một loạt các công cụ và thiết bị giúp bạn làm việc này. Nhưng đầu tiên và trước hết, cân bằng khí là việc hiểu rõ toàn bộ tổng thể vấn đề. Khả năng đó tách biệt một kĩ sư đích thực ra khỏi một kĩ thuật viên chỉ biết thay thế các chi tiết cho vừa không gian.
Nắm rõ tại sao việc phân phối một lượng chính xác gió hợp lí vào mỗi phòng là rất quan trọng. Sau đó tự mình xem xét lại các phòng. Có lò sưởi trong phòng khách không ? Khi lò sưởi đó hoạt động, nó sẽ hút rất nhiêu gió được điều hòa lên khỏi ống khói. Hệ thống của bạn có cung cấp đủ khí để giữ cho người sử dụng thoải mái dưới những điều kiện nhất định không ? Vấn đề tương tự cũng chính xác cho quạt xả nhà bếp và phòng tắm. Nếu một hệ thống đựoc thiết kế để chứa quạt phòng tắm cỡ 50cfm, nắm được tại sao lắp đặp một loại hút cỡ 100cfm là sai lầm. Nhiều không hẳn lúc nào cũng tốt.
Hầu hết các kĩ sư đều biết lắp đặt một thiết bị sưởi hay điều hòa không khí. Nghĩ về vấn đề cân bằng khí là bước cuối cùng của việc lắp đặt thiết bị - bước đảm bảo sự hoạt động tại trạng thái hết công suất.

Biên dịch : Hồ Thành Danh - CTV
http://hvacr.vn

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Bảng báo giá điều hòa VRV ( Thiết bị + vật tư )

0 nhận xét
Hiện nay có rất nhiều bạn đọc muốn tìm hiểu giá của điều trung tâm VRV để tham khảo , lập dự toán , báo giá . Nhưng giá thiết bị này không có sẵn vì vậy rất khó khăn cho nhựng khách hàng chỉ muốn tham khảo hoặc lập dự toán cho công trình .


Povn vừa tìm được một nơi có chia sẽ bảng giá này cùng với giá vật tư nhân công cho hệ thống loại này .Bảng giá này có phí vì vậy ai có nhu tìm hiểu thật sự hoặc dùng làm tài liệu tham khảo thì có thể download theo đường link dưới đây .


Thông tin chia sẻ

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

Hướng dẫn sử dụng phần mềm tính tải Heatload daikin

0 nhận xét
Phần 1 : Cài đặt phần mềm .
Trước tiên Download phần mềm về cài đặt với thông số sau Download tại đây
User : daikin
Pass : dil
Phần 2 : Hướng dẫn tính tải lạnh 
Trên bản vẽ là một văn phòng gồm 2 khu là Office 1 và Office 2 .Mái bê tông phía trên.Phía dưới là mặt đất.
Mở phần mềm lên và nhập thông số của Văn Phòng
Bước 1
 City/Country : nhấp vào đó và chọn quốc giá Việt Nam và Thành phố .Ở đây chỉ có 3 thành phố đại điện cho 3 miền . Hà Nội , Quảng Trị , HCM ,Nếu muốn tính cho vùng có sự khác biệt lớn như Đà Lạt thì phải tra thông số thời tiết của Đà Lạt sau đó điền vào data ở phần Design data / Wheather data
Outer wall  : chọn kết cấu cho công trình , mặc định là betong.
 Bước 2 :
Chọn tab Room data để nhập thông số phòng.Để nhập thông số cho phòng thì nhấp vào Add room.
Usage of Room : Chọn kiểu công trình 
Ventilation system : kiểu thông gió .
+ Natural : tự nhiên.
+ Vent Fan : dùng quạt.
+ Total heat Exc : dùng bộ thu hồi nhiệt.

Ceiling Board . Có trần hay không

 Roof& Non- Cond ceiling area  ( Tầng trên không có điều hòa )
+ Upper room : Phòng phía trên
+ Flax room : mái bằng
+ Inclined room : Mái nghiêng 
+ Glass : mái kiếng
Non- Conditioned Floor Aria ( Tầng dưới không có điều hòa )
+ Earth floor : tầng trệt 
+ Air Layer Exit : Tầng dưới không điều hòa có trần giả.
+ Air Layer No : Tầng dưới không điều hòa không có trần giả.
+ pilotis : Phần không có điều hòa tiếp xúc bên ngoài.
Equipment ( chọn thiết bị sinh nhiệt )
Chọn các thiết bị bằng cách nhập số lượng thiết bị (Heat Source Input )vào trong bảng .Nêu ko xác định được số lượng thì có thể dựa vào số người để chọn máy tính ....

Sau khi nhập xong phần trên ta tiếp tục nhập kích thước của tường 
+ Outer Wall  Length : tường ngoài 
+ Cửa sổ
+ Inner Wall Length for Non-Cond space : Tường ngoài không có điều hòa.

Bước 3 : Thay đổi hệ số truyền nhiệt và kết cấu tường bao cho thích hợp nếu ko có thông số thì để mặc định.
Bước 4 : Chọn nhiệt độ và độ ẩm cho phòng .Có thể chọn thông số này từ bước 1 ở phần Design data thì phần này mình ko phải nhập lại .
Bước 5 : Schedule chọn thời gian hoạt động
Bước 6 : Others

Fresh Air Intake ( Gió tươi ):  mặc định theo TCVN
Infiltration : hệ số rò gió : mặc định
Lighting : Nhiệt do đèn 
Window type :  Chọn kiểu kiếng
Blind Type : Kiểu rèm che.
Bước 7 : Material II : thay đổi thông số tường , cửa sổ 
Bước 8 : Extension : thay đổi thông số về người và kiếng cho phù hợp với công trình.
Vậy là xong quá trình nhập dữ liệu cho Office 1. Nếu các tầng giống nhau thì ta có thể copy cho những tầng khác. Để copy ta chọn Insert / Copy /new room sau đó chọn room cần copy.
Coppy ta được kết qua sau 
Tiếp theo nhấn vào Main menu để chuyển qua  Sum/Print để xuất dữ liệu
 Nhấp vào tag Table of system
 

Nhìn vào hình ta có bản thông số tải theo từng giờ và tải đỉnh lúc 15h
Muốn xem biểu đồ thì nhấp vào Graph
Cuồi cùng ta chuyển sang lệnh Print
.Trong phần này có in ra PDF và Excel .Nếu muốn in ra PDF thì ta cần có adobe arobat hoặc máy in ảo Tiny PDF

Xuất dữ liệu ra excel .Khi xuất ra có thể bị tình trạng này nếu Macro của máy tính đang ở chế độ bảo mật cao.



 Vào tool/option/Security/macro/  chọn Low là sẽ xuất sang Excel được

Hướng dẫn được viết bởi povn.info 

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

SPEC BEST WESTERN NHA TRANG PLAZA HOTEL

0 nhận xét
Tài liệu này là SPEC ĐIỀU HÒA KHÔNG KHÍ CÔNG TRÌNH  BEST WESTERN NHA TRANG PLAZA HOTEL

Ngôn ngữ : Tiếng Anh

Số Trang : 337

Dạng : Spec kỹ thuật

Chuyên ngành : Điều hòa không khí
Tài liệu : có phí


SCOPE OF WORK 1
1.1 PROJECT DESCRIPTION........ 1
1.2 SERVICES DESCRIPTION ..... 1
1.3 DEFINITION OF TERMS ........... 1
1.4 EXTENT OF WORK..3
1.5 SCHEDULE OF DRAWINGS... 4
2. CO-ORDINATION AND WORK BY OTHER CONTRACTORS 5
2.1 CO-ORDINATION . 5
2.2 WORK BY OTHER CONTRACTORS .. 5
3. SPECIFIC PROJECT REQUIREMENTS.... 8
3.1 DESIGN REQUIREMENTS .............. 8
4. GENERAL REQUIREMENTS..10
4.1 SITE INSPECTION ..................... 10
4.2 AUTHORITY REQUIREMENTS AND STANDARDS .. 10
4.3 WARRANTIES .10
4.4 SPECIFICATION AND DRAWINGS 10
4.5 DISCREPANCIES & OMISSIONS. 10
4.6 SETTING OUT OPENINGS AND MAKING GOOD 11
4.7 POSITIONING OF EQUIPMENT 11
4.8 CO-ORDINATION OF INSTALLATION . 11
4.9 PERFORMANCE AND GUARANTEE .. 11
4.10 SHOP DRAWINGS ..... 12
4.11 AS-INSTALLED OR AS-BUILT DRAWINGS . 12
4.12 EQUIPMENT DEVIATIONS.... 12
4.13 PACKAGED EQUIPMENT.........12
4.14 SAMPLES AND PROTOTYPES. 13
4.15 RADIO INTERFERENCE..13
4.16 LABELLING ............................... 13
4.17 WORKMANSHIP AND MATERIALS ... 14
4.18 SETTING OUT ... 14
4.19 PRECAUTIONS IN CARRYING OUT WORKS 15
4.20 SCAFFOLDING AND LIFTING EQUIPMENT....15
4.21 SEALING OF PENETRATIONS ....15
4.22 FIXINGS AND PLUGS....... 16
4.23 STORAGE AND PROTECTION ...... 16
4.24 SITE CLEANLINESS AND REMOVAL OF RUBBISH .16
4.25 NOISE AND VIBRATIONS ...17
4.26 PIPE SLEEVES .....17
4.27 EXPANSION ... 17
5. EQUIPMENT . 18
5.1 CENTRIFUGAL/ SCREW CHILLERS - WATER COOLED ... 18
5.2 COOLING TOWER . 23
5.3 CENTRIFUGAL PUMPS....... 25
5.4 PRIMARY AIR HANDLING UNITS (PAU) ... 26
5.5 FAN COIL UNITS............ 31
5.6 VARIABLE AIR VOLUME (VAV) BOXES ... 33
5.7 VARIABLE FREQUENCY DRIVES (VSD) .... 34
5.8 AIR FILTERS .................. 38
5.9 AXIAL FLOW FANS ............ 39
5.10 CENTRIFUGAL FANS ......... 42
5.11 IN-LINE CENTRIFUGAL FANS ... 42
5.12 PROPELLER FANS - WALL OR CEILING MOUNTED.. 42
5.13 EXHAUST FANS - ROOF MOUNTED..... 43
5.14 CLOSED TYPE EXPANSION VESSEL......43
6. DUCTWORK & FITTINGS 44

6.1 GENERAL .. 44
6.2 SHEET METAL DUCT MATERIALS.. 45
6.3 FLEXIBLE DUCTS ................ 45
6.4 FITTINGS............................. 46
6.5 DUCT SUPPORTS, HANGERS AND BRACING ............ 49
6.6 AIR OUTLETS .................. 50
6.7 THERMAL AND ACOUSTIC INSULATION ....... 53
6.8 SEALING AND FLASHING............. 55
6.9 TEST POINTS .................... 55
6.10 CLEANING AND PROTECTION DURING CONSTRUCTION .. 56
6.11 LEAK TESTING ...... 56

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2011

Các phương pháp sử lý nhiệt ẩm trong không khí

0 nhận xét
1 CÁC QUÁ TRÌNH XỬ LÝ NHIỆT ẨM KHÔNG KHÍ
1.1 Khái niệm về xử lý nhiệt ẩm không khí
Bản chất của quá trình điều hoà không khí là tạo ra và duy trì các thông số vi khí hậu của không khí trong phòng bằng cách thổi vào phòng không khí sạch đã qua xử lý. Quá trình xử lý không khí của hệ thống bao gồm xử lý tất cả các mặt, cụ thể như sau:
- Xử lý về nhiệt độ: Làm lạnh hoặc gia nhiệt;
- Xử lý độ ẩm: Làm ẩm hoặc làm khô;
- Khử bụi trong không khí;
- Khử các chất độc hại;
- Khử khí CO2 và bổ sung O2;
- Đảm bảo tốc độ lưu động không khí trong phòng ở mức cho phép;
- Đảm bảo độ ồn trong phòng dưới độ ồn cho phép.
Trong các nhân tố trên, hai yếu tố đầu là nhiệt và ẩm rất quan trọng, nó có ảnh hưởng nhiều đến trạng thái của không khí , nên trong chương này chỉ tập trung nghiên cứu 2 nhân tố đó. Các nhân tố còn lại sẽ được nghiên cứu ở các chương sau này, trong phần thông gió, lọc bụi và tiêu âm.
1.2 Các quá trình xử lý nhiệt ẩm trên đồ thị I-d
Bây giờ ta xét xem trên đồ thị I-d có thể có các quá trình xử lý không khí như thế nào, đặc điểm và tên gọi của các quá trình đó.


Hình 4.1 Các quá trình xử lý nhiệt ẩm trên đồ thị I-d
Trên đồ thị I-d điểm A là trạng thái không khí ban đầu trước khi chưa xử lý. Các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 là trạng thái cuối quá trình xử lý không khí. Bây giờ ta hãy xét đặc điểm, tên gọi và các thiết bị, phương pháp có khả năng xử lý không khí theo quá trình đó.
60
- Xét quá trình A1 : Đây là quá trình mà dung ẩm giảm, nhiệt độ giảm và entanpi của không khí cũng giảm, tức: Δd= d1 - dA < 0, ΔI < 0 và Δt < 0.
Có thể gọi quá trình này là quá trình làm lạnh, làm khô. Để xử lý không khí theo quá trình A1 có thể sử dụng thiết bị trao đổi nhiệt kiểu bề mặt hoặc ở thiết bị buồng phun có nhiệt độ bề mặt và nước phun thấp hơn nhiệt độ đọng sương ts của trạng thái A. Khi không khí tiếp xúc với dàn lạnh hoặc các giọt nước lạnh, nó sẽ nhả nhiệt, đồng thời các giọt hơi ẩm trong không khí ngưng kết lại trên bề mặt thiết bị trao đổi nhiệt hoặc trên bề mặt giọt nước. Kết quả lượng ẩm trong không khí giảm hay nói cách khác dung ẩm giảm.
- Xét quá trình A2 : Quá trình A2 có dung ẩm không đổi, nhiệt độ và entanpi giảm, Δd = dA - d2 = 0, ΔI < 0 và Δt < 0, hệ số góc tia quá trình ε = - ∞. Nó được gọi là quá trình làm lạnh đẳng dung ẩm. Quá trình này có thể thực hiện ở dàn trao đổi nhiệt kiểu bề mặt có nhiệt độ bề mặt lớn hơn nhiệt độ đọng sương ts nhưng nhỏ hơn nhiệt độ trạng thái A: tS < tw < tA
- Quá trình A3 : Dung ẩm tăng, nhiệt độ và entanpi giảm, Δd > 0, ΔI < 0 và Δt < 0. Quá trình A3 gọi là quá trình tăng ẩm, giảm nhiệt. Nó chỉ có thể thực hiện ở thiết bị buồng phun, nếu thiết bị làm lạnh kiểu bề mặt thì phải tiến hành phun ẩm bổ sung.
- Quá trình A4 : Dung ẩm tăng, entanpi không đổi và nhiệt độ giảm, Δd>0, ΔI=0 và Δt <0. Quá trình gọi là tăng ẩm đoạn nhiệt (bay hơi hơi đoạn nhiệt). Quá trình A4 có ε = 0. Để xử lý không khí theo quá trình này chỉ cần cho bay hơi nước vào không khí là được.
- Quá trình A5 : Dung ẩm tăng, entanpi tăng và nhiệt độ vẫn giảm, Δd > 0, ΔI> 0,Δt < 0. Hệ số góc tia quá trình ε có giá trị dương. Quá trình A5 gọi là quá trình tăng ẩm, tăng nhiệt, nhiệt độ giảm. Quá trình này cũng được xử lý bằng nước phun có nhiệt độ cao.
- Quá trình A6 : Dung ẩm tăng, entanpi tăng và nhiệt độ không đổi Δd > 0, ΔI > 0, Δt = 0. Quá trình A6 có hệ số góc tia ε = ro ≈ 2500 kJl/kg ≈ 600 kCal/kg. Quá trình A6 gọi là quá trình tăng ẩm, tăng nhiệt, đẳng nhiệt.
- Quá trình A7 : Dung ẩm, entanpi và nhiệt độ đều tăng, Δd > 0, ΔI > 0, Δt > 0. Đó là quá trình tăng ẩm, tăng nhiệt, nhiệt độ tăng.
- Quá trình A8 : Dung ẩm không đổi, nhiệt độ và entanpi tăng, Δd = 0, ΔI > 0, Δt > 0. Đó là quá trình Gia nhiệt đẳng dung ẩm. Quá trình này có thể thực hiện ở thiết bị gia nhiệt kiểu bề mặt.
- Quá trình A9 : Dung ẩm giảm, nhiệt độ và entanpi tăng, Δd < 0, ΔI > 0, Δt > 0. Đó là quá trình tăng nhiệt giảm ẩm.
Cần chú ý là các quá trình A1, A3, A5 và A7 chỉ vẽ tượng trưng, thực ra mỗi quá trình như vậy có thể quét trên một miền khá rộng. Chẳng hạn quá trình A3 quét từ tia A2 đến tia A4.
Trong đó ta cần lưu ý:
• Các quá trình từ A1 - A7 thực hiện ở thiết bị trao đổi nhiệt kiểu hổn hợp (giữa nước và không khí)
• Quá trình A1, A2 thực hiện ở thiết bị trao đổi nhiệt bề mặt nhiệt độ thấp.
• Quá trình A8 thực hiện ở thiết bị trao đổi nhiệt bề mặt nhiệt độ cao.
• Quá trình A9 : Thực hiện trong điều kiện đặc biệt khi dùng hóa chất hút ẩm kèm thiết bị gia nhiệt.
Tất cả các quá trình trên đây đều đã được lý tưởng hoá, thực tế các quá trình xử lý không khí thực tế có thể không biến đổi theo dạng đường thẳng mà thường thay đổi theo những đường cong nhất định tuỳ thuộc nhiều yếu tố, chẳng hạn như chiều chuyển động tương đối giữa không khí và tác nhân xử lý lạnh.

2 CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT BỊ XỬ LÝ KHÔNG KHÍ
2.1 Làm lạnh không khí.
2.1.1 Làm lạnh bằng dàn ống có cánh.
Trong kỹ thuật điều hòa không khí người ta sử dụng phổ biến các thiết bị trao đổi nhiệt kiểu bề mặt để làm lạnh không khí.
Về cấu tạo: Phổ biến nhất là dàn trao đổi nhiệt kiểu ống đồng cánh nhôm. Không khí chuyển động bên ngoài dàn trao đổi nhiệt. Bên trong có thể là nước lạnh (chất tải lạnh) hoặc chính môi chất lạnh bay hơi.
Không khí khi chuyển động qua dàn một mặt được làm lạnh mặt khác một phần hơi nước có thể ngưng tụ trên bề mặt trao đổi nhiệt và chảy xuống máng hứng nước ngưng. Vì thế trên đồ thị I-d quá trình biến đổi trạng thái của không khí sẽ theo quá trình A1 hay là quá trình làm lạnh làm khô. Khi nhiệt độ bề mặt lớn hơn ts thì quá trình diễn ra theo đường A2, làm lạnh đẳng dung ẩm.
Hầu hết các máy điều hoà trong đời sống sử dụng thiết bị làm lạnh kiểu bề mặt.

Hình 4.1. Các kiểu loại dàn lạnh không khí
2.1.2. Làm lạnh bằng nước phun đã xử lý.
Người ta có thể làm lạnh không khí thông qua thiết bị trao đổi nhiệt kiểu hỗn hợp, trong đó người ta cho phun nước lạnh đã xử lý tiếp xúc trực tiếp với không khí để làm lạnh. Thiết bị này còn được gọi là thiết bị buồng phun.
Không khí khi qua buồng phun nhiệt độ giảm còn dung ẩm có thể tăng, không đổi hoặc giảm tùy thuộc vào nhiệt độ của nước phun. Khi nhiệt độ nước phun nhỏ hơi nước trong không khí sẽ ngưng tụ trên bề mặt các giọt nước và làm giảm dung ẩm. Như vậy có thể điều chỉnh dung ẩm của không khí thông qua điều chỉnh nhiệt độ nước phun.
Trong thiết bị buồng phun, nước được phun thành những giọt nhỏ li ti nhờ các vòi phun. Do các giọt nước rất nhỏ nên diện tích tiếp xúc cực kỳ lớn, tuy nhiên ở trong buồng phun thời gian tiếp xúc giữa không khí với nước rất nhỏ, nên hiệu qủa trao đổi nhiệt ẩm ít nhiều cũng bị hạn chế.

Để tăng diện tích tiếp xúc, người ta có thể tạo màng nước trên các bề mặt rắn. Hiệu qủa của phương pháp này cũng tương tự kiểu phun.
Thiết bị buồng phun được sử dụng nhiều trong công nghiệp dệt và nhiều ngành khác, đòi hỏi khống chế độ ẩm theo những chương trình khắt khe.
Hình 4.2. Buồng xử lạnh không khí
2.1.3. Làm lạnh bằng nước tự nhiên
Làm mát bằng nước lạnh chi phí khác cao cho việc làm lạnh nước. Trong những trường hợp khi yêu cầu nhiệt độ không khí cần làm lạnh không thấp quá, có thể dùng nước tự nhiên, chưa qua làm lạnh và cho bay hơi vào trong không khí để giảm nhiệt độ của nó. Mức độ làm lạnh không khí phụ thuộc độ ẩm của nó và nhiệt độ của nước.

Hình 4.3. Quạt nước
1- Lớp vật liệu xốp mao dẫn; 2- Quạt gió; 3- Bơm nước; 4,5- Mặt trước;
6 Máng hứng nước; 7- Van phao khống chế mức nước
Hiện nay ở thị trường có bán rất nhiều loại quạt nước, các loại quạt này đều có nguyên lý làm việc tương tự nhau là cho nước bay hơi vào không khí khi chuyển động qua quạt. Trên hình 4.3 là một kiểu quạt nước. Nước được một bơm nhỏ bơm lên phía trên và cho chảy qua một lớp vật liệu xốp mao dẫn. Không khí chuyển động qua lớp mao dẫn được thấm ướt, nước sẽ bay hơi đoạn nhiệt vào không khí làm cho nhiệt độ không khí giảm xuống theo đường đoạn nhiệt A4.

Trong công nghiệp, chẳng hạn ở các xí nghiệp dệt sử dụng các thiết bị buồng phun với nước đã được làm lạnh rất tốn kém. Vì vậy những ngày trời ít nắng và những lúc phụ tải không quá lớn người ta không sử dụng nước lạnh, mà sử dụng nước thường để xử lý không khí. Quá trình xử lý trong trường hợp này cũng diễn ra theo đường A4.
Nhiệt độ không khí được xử lý theo nước thường hạ xuống thấp nhất có thể là bằng nhiệt độ nhiệt kế ướt.
2.1.4. Làm lạnh bằng máy nén - giãn khí.
Để làm lạnh không khí trên các máy bay người ta sử dụng phương pháp nén và giãn nở không khí để đạt được không khí có nhiệt độ thấp. Nhờ có sẵn máy nén tua bin có thể sử dụng để nén khí, không phải trang bị thêm máy nén, nên thường hay được sử dụng.
2.2. Gia nhiệt không khí.
2.2.1. Gia nhiệt bằng dàn ống có cánh sử dụng nước nóng
Trong kỹ thuật điều hòa không khí người ta có thể thực hiện gia nhiệt cho không khí bằng thiết bị trao đổi nhiệt bề mặt sử dụng nước hoặc hơi nước nóng. Thường đó là dàn ống có cánh, không khí chuyển động cưỡng bức bên ngoài ngang qua dàn ống, nước hoặc hơi nước chuyển động bên trong.
Ở các nước châu Âu nhu cầu sưởi nóng về mùa Đông là bắt buộc đối với mọi nhà. Trong nhà thường trang bị các bộ gia nhiệt kiểu bề mặt sử dụng hơi nước dẫn từ các trung tâm nhiệt điện đến.
Ở các nước về mùa Đông nhiệt độ không quá lạnh, chẳng hạn như nước ta thì việc sưởi ấm chỉ thực hiện ở các công trình đặc biệt, mà không phải bắt buộc đối với toàn dân. Việc sưởi ấm thực hiện từ các nguồn cấp nhiệt cục bộ.
Thiết bị gia nhiệt sử dụng nước nóng hoặc hơi từ nguồn cấp nước nóng cục bộ. Ví dụ một số khách sạn cao cấp ở nước ta có trang bị các lò hơi cấp hơi nóng cho các bộ gia nhiệt kiểu bề mặt đặt ở các phòng để sưởi ấm về mùa Đông. Ở đây bộ xử lý không khí của hệ thống thường có 02 dàn trao đổi nhiệt : một dàn sử dụng nước nóng, dàn kia nước lạnh và chsung làm việc không đồng thời. Daìn laûnhDaìn noïngNæåïc noïngNæåïc laûnhKhäng khê vaìoKhäng khê ra
Hình 4.6. Bố trí các dàn xử lý không khí
Nước nóng được cấp từ lò cấp nước nóng cục bộ của công trình.


2.2.2. Gia nhiệt bằng dàn ống có cánh sử dụng gas nóng
Một biện pháp khác cũng hay được sử dụng là dùng các máy lạnh 2 chiều. Trong các máy này về mùa Đông nhờ hệ thống van đảo chiều hoán đổi chức năng của dàn nóng và dàn lạnh, nhờ vậy không khí thổi vào phòng là không khí nóng của dàn nóng. Như vậy trong trường hợp này không khí cũng được gia nhiệt bằng dàn ống có cánh sử dụng gas nóng của hệ thống máy lạnh.

Hình 4.7. Hệ thống van đảo chiều
Trên hình 4,7 là sơ đồ nguyên lý làm việc của máy lạnh 2 chiều. Van đảo chiều RV có nhiệm vụ hoán đổi chức năng của các dàn trao đổi nhiệt bên ngoài và bên trong phòng. Về mùa đông dàn trao đổi nhiệt bên trong IC là dàn nóng.
Quá trình thay đổi trạng thái của không khí theo đường A8.
2.2.3. Gia nhiệt bằng thanh điện trở.
Người ta có thể thực hiện việc sấy không khí bằng các điện trở thay cho các thiết bị trao đổi nhiệt bề mặt. Thường các dây điện trở được bố trí trên các dàn lạnh của máy điều hòa (hình 4.8). Về mùa Đông máy dừng chạy lạnh, chỉ có quạt và thanh điện trở làm việc. Không khí sau khi chuyển động qua thanh điện trở sẽ được sưởi ấm theo quá trình gia nhiệt đẳng dung ẩm A8.
Việc sử dụng dây điện trở có ưu điểm là gọn nhẹ và chi phí đầu tư thấp. Tuy nhiên chi phí tiền điện (chi phí vận hành) khá lớn và dễ gây cháy, chập điện do các dàn lạnh thường được lắp đặt trên laphông của các công trình, có nhiều vật liệu dễ cháy, nguy hiểm.

Cấu tạo của các thanh điện trở thường gồm 3 lớp, bên trong cùng là dây kim loại có điện trở suất lớn, dây được cách nhiệt bằng lớp vật liệu cách nhiệt dạng bột. Ngoài cùng là lớp vỏ kim loại có cánh tản nhiệt lớn.
Thanh điện trở được gắn trực tiếp lên các bộ trao đổi nhiệt và hoạt động không đồng thời với hệ thống lạnh. Khi làm lạnh môi chất (nước lạnh hoặc tác nhân lạnh) đi qua dàn trao đổi nhiệt và không khí làm lạnh.
Một biện pháp khác cũng thường hay được sử dụng là lắp đặt các thanh điện trở trên các đoạn đường ống.
Hình 4.9. Thanh điện trở và cách lắp trên đường ống
2.3. Tăng ẩm cho không khí.
Trong công nghiệp đặc biệt trong công nghiệp dệt, đòi hỏi độ ẩm không khí khá cao. Những mùa hanh khô độ ẩm không khí không đảm bảo yêu cầu, cần phải tăng ẩm (dung ẩm) cho không khí. Để làm điều đó cần cho bay hơi nước vào trong không khí. Có nhyiêù biện pháp khác nhau, dưới đây là các biện pháp thường được sử dụng.
67
2.3.1 Tăng ẩm bằng thiết bị buồng phun.
Buồng phun thường được sử dụng để tăng ẩm cho không khí trong công nghiệp vì lưu lượng đòi hỏi lớn.
Khi phun hơi nước vào trong không khí, thường người ta sử dụng nước tự nhiên (trừ trường hợp cần kết hợp gia nhiệt). Khi phun nước, quá trình xảy ra gần với quá trình bay hơi đoạn nhiệt, trạng thái không khí thay đổi theo đường A4 hoặc A5.
Đặc điểm cơ bản của quá trình này là :
- Lượng hơi ẩm bay hơi vào không khí rất ít so với lượng nước phun.
- Sự thay đổi trạng thái của không khí phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ nước phun.
2.3.2 Tăng ẩm bằng thiết bị phun ẩm bổ sung.
Tăng ẩm bổ sung là hình thức đưa hơi nước trực tiếp vào không gian bên trong gian máy với lượng hơi nước đưa vào thường không lớn lắm. Có nhiều biện pháp tăng ẩm bổ sung cho không khí nhưng có chung đặc điển là:
- Lượng hơi ẩm đưa vào không lớn lắm
- Làm ẩm cho không khí trong một khoảng không gian hạn chế.
- Khi phun hơi ẩm tuyệt đối không được du thừa, toàn bộ hơi ẩm phải được khuyếch tán vào trong không khí.
Thường người ta sử dụng các thiết bị phun ẩm sau: Hộp hơi phun hơi ẩm bão hoà, thiết bị kiểu kim phun, đĩa quay hoặc khí nén.
a)Phun nước bão hoà vào không khí nhờ hộp hơi: Trên hình 4.10 là cấu tạo của hộp hơi phun hơi ẩm bão hoà nhờ điện trở. Thiết bị gồm hộp sinh hơi 4, bên trong có các sợi dây điện trở 3. Khi đốt nóng hơi nước bốc ra theo ống 1 rồi khuyếch tán vào không khí. Nước bổ sung được cấp vào ống 2 và chứa trong thùng 5 thông với thùng 4. Ống xả 6 nhằm duy trì mức nước trong các thùng 4 và 5. Trạng thái của không khí sẽ thay đổi theo quá trình đẳng nhiệt ε = ro
oordd.rdI=ΔΔ=ΔΔ=ε
Hình 4.10. Hộp phun hơi ẩm bão hoà
Như vậy trạng thái không khí sẽ thay đổi theo đường đẳng nhiệt A6, nghĩa là nhiệt độ không khí sẽ không thay đổi .
Như vậy ta có thể tính toán được trạng thái không khí nếu biết được lượng hơi bay hơi vào không khí. Chẳng hạn hơi nước bão hoà 100oC với lưu lượng 8 kg/h được phun vào không khí ở trạng thái t1=27oC, ϕ1 =50% (không có hơi ẩm dư thừa) và lưu lượng 1000 kg/h. Nếu hơi

khuyếch tán đều vào không khí thì lượng ẩm tăng là kg/g810008d==Δ, trạng thái không khí sau khi tăng ẩm là: d2=19 g/kg, ϕ2 =85% và t2=27oC
b). Phun nước cho bay hơi đoạn nhiệt vào không khí
Yêu cầu cơ bản của phun ẩm bổ sung là hơi phun phải mịn để khuyếch tán hoàn toàn vào trong không khí không được dư thừa. Quá trình bay hơi nước vào không khí được thực hiện đoạn nhiệt, tức ε=0. Thường người ta sử dụng các thiết bị như sau: vòi phun và đĩa quay.
- Dùng vòi phun với bơm: Trên hình 4.11 là thiết bị vòi phun với bơm. Nước có áp suất cao 9÷90 bar từ bơm đi vào ống dẫn 5 qua bộ lọc 2, trong đó có lưới lọc 6 dạng hình trụ, sau đó theo ống dẫn 7 vào vòi phun 1. Bên trong vòi phun cũng có lưới lọc bằng đồng để tiếp tục lọc nước. Nước sạch qua ống 8 có đầu phun nhỏ để tăng tốc, ra khỏi vòi phun, nước phun vào kim 9 đặt cách lổ một khoảng nhất định và có thể điều chỉnh được nhờ vít 10. Sau khi va đập mạnh vào kim 9 nước bị xé tơi thành màn bụi dạng nóng. Các hạt bụi khuyếch tán vào trong khong khí , các hạt lớn một phần đập vào vỏ 3 để tiếp tục bị làm tơi và bay hơi tiếp, phần còn lại (98%) rơi xuống phểu 4 có đáy thông với đường thu hồi về bơm.
Sau một thời gian làm việc cần xả bẩn trong các lưới lọc và thổi thông đầu mủi phun. Muốn vậy người ta sử dụng khí nén. Khi ngừng phun, lò xo ép van 12 lên, mở thông đường khí nén từ bầu 11 với đường xả 14, khí nén sẽ cuốn nước cùng cặn bẩn bám trên lưới đưa vào phễu 4.

Hình 4.11. Vòi phun hơi nước
Năng suất làm ẩm của thiết bị là 7 kg/h và lượng nước phun mỗi giờ là 350 l, tiêu hao năng lượng là 20W cho mỗi kilôgam hơi ẩm.
Thiết bị phun ẩm kiểu vòi phun tuy có ưu điểm là tiêu hao điện năng ít, nhưng ít được sử dụng do lổ phun khá nhỏ hay bị tắc, nước dễ chảy ra nền nhà, vận hành phức tạp.
- Phun ẩm bằng thiết bị đĩa quay: Cấu tạo của thiết bị được đưa ra trên hình 4.12. Thiết bị gồm có đĩa 2 được gắn với trục quay dẫn động nhờ động cơ 1 quay với tốc độ rất cao 2850 vòng/phút, chao 5 trên có gắn các cánh tĩnh 4 và lá chắn 11, quạt gió 6 và vỏ 10 lắp đồng trục với đĩa 2.
Nguyên lý làm việc của thiết bị như sau: Nước từ ống dẫn 3 được tưới lên bề mặt bên trong của đĩa 2. Khi đĩa quay, nhờ lực ly tâm các giọt nước văng ra va đập lên các cánh tĩnh 4 và được xé tơi. Nhờ quạt 6 các giọt nước được thổi vào không khí trong gian máy và khuyếch

tán hết. Các giọt nước lớn bị lá chắn 11 cản lại, rơi xuống phần dưới của chao 5, theo ống 8 về bơm.
Năng suất làm ẩm của thiết bị khoảng 10 kg/h, lưu lượng nước cung cấp 90 l/h, tiêu hao điện năng là 51W cho mỗi kilôgam hơi ẩm. Như vậy so với thiết bị phun kiểu vòi phun thiết bị đĩa quay tiêu hao ít nước hơn nhiều, nhưng chi phí điện năng khá lớn.
Ưu điểm của thiết bị là đơn giãn, dễn chế tạo, dễ vận hành, ít trục trặc do tắc nước. Vì vậy nó thường hay được sử dụng trong các xí nghiệp công nghiệp.
Nhược điểm là vẫn còn lượng hơi nước dư thừa nên có khả năng làm ướt nền nhà., thiết bị khá cồng kềnh, các chi tiết dễ bị hoen rỉ.
Hình 4.12. Thiết bị phun ẩm kiểu đĩa quay
- Phun ẩm bằng thiết bị khí nén: Trên hình 4.13 là thiết bị phun ẩm kiểu khí nén.
Nguyên lý làm việc của thiết bị như sau: Không khí có áp suất 2 bar đươc cấp từ hệ thống khí nén theo ống dẫn 1 chuyển động vào bọc quanh ống 3 và thoát ra lổ phun hẹp 5. Khi thoát ra khỏi lổ phun khí nén cuốn theo một lượng hơi nước và xé tơi thành bụi và khuyếch tán vào không khí.
Nước được cung cấp từ một bình chứa, nhờ áp suất của khí nén đưa vào thùng. Do đó khi ngừng cấp khí nén thì nước cũng ngừng chảy vào ống phun.
Năng suất làm ẩm của mỗi ống phun là 2,7 kg/h; lượng khí nén tiêu hao cho mỗi ống khoảng 4 m3/h; điện năng tiêu hao là 190W cho mỗi ống phun (khoảng 70w cho mỗi kilôgam hơi ẩm).
Mặc dù tiêu hao nhiều điện năng và phải có hệ thống khí nén nhưng thiết bị phun ẩm bổ sung kiểu này vẫn hay được sử dụng vì cấu tạo rất gọn, độ tin cậy cao, dễ tự động, không có lượng nước dư thừa.

Hình 4.13. Thiết bị phun ẩm kiểu khí nén
2.4 Làm khô (giảm ẩm) cho không khí.
Trong đời sống và công nghiệp, nhiều lúc đòi hỏi giảm độ ẩm của không khí , chẳng hạn như trong một số phân xưởng chế tạo các thiết bị đặc biệt đòi hỏi độ ẩm nhỏ. Ví dụ chế tạo máy biến áp, linh kiện điện tử vv. . . Giảm ẩm cho không khí là quá trình rút một phần hơi ẩm trong không khí nhằm giảm độ ẩm (dung ẩm) cho nó. Quá trình đó thường được thực hiện bằng cách ngưng kết hơi nước trên các bề mặt nhiệt độ thấp hoặc nhờ các loại hoá chất đặc biệt.
2.4.1 Làm khô bằng dàn lạnh.
Quá trình làm lạnh không khí thường kèm theo làm khô nó, do hơi ẩm trong không khí ngưng kết lại trên bề mặt của thiết bị. Tuy nhiên không phải bao giờ làm lạnh cũng kèm theo làm khô, điều kiện để diễn ra ngưng kết hơi ẩm là nhiệt độ bề mặt của dàn lạnh phải nhỏ hơn nhiệt độ đọng sương của không khí. Thông thường điều kiện đó luôn luôn thoả mãn do nhiệt độ của các tác nhân lạnh bên trong rất thấp.
Quá trình làm khô bằng dàn dàn lạnh diễn ra theo quá trình A1.
Thường nhu cầu giảm ẩm ít có nhu cầu trên thực tế , quá trình này thường được diễn ra kèm theo quá trình làm lạnh.
2.4.2 Làm khô bằng thiết bị buồng phun.
Trong công nghiệp ta có thể thực hiện việc giảm ẩm bằng thiết bị buồng phun. Khi phun nước lạnh có nhiệt độ nhỏ hơn nhiệt độ điểm sương của không khí thì một phần hơi ẩm trong không khí sẽ ngưng tụ lại trên bề mặt của các giọt nước. Như vậy một một giọt nước phun óng vai trò như những bề mặt ngưng kết làm tích tụ nước và tăng khối lượng các giọt nước. Tuy nhiên đây là một quá trình phức tạp nên rất khó khống chế và điều khiển.
2.4.3 Làm khô bằng máy hút ẩm.
Người ta có thể thực hiện việc giảm ẩm trong một không gian bằng máy hút ẩm. Máy hút ẩm có các thiết bị như một máy điều hoà dạng cửa sổ, nhưng các dàn nóng và dàn lạnh được bố trí khác đi. Trong máy hút ẩm không khí vào một đầu và ra đầu kia sau khi chuyển động qua dàn lạnh và dàn nóng.

Quá trình thực hiện như sau: Không khí được quạt 2 hút đưa qua dàn lạnh 4. Ở đây thực hiện quá trình làm lạnh, làm khô A1, hơn ẩm trong không khí ngưng kết một phần rơi xuống máng 5 và chảy ra bể hứng 6. Sau đó không khí được dẫn đến dàn ngưng 3, thực hiện quá trình gia nhiệt đẳng dung ẩm, làm cho độ ẩm tương đối giảm xuống, đồng thời tăng nhiệt độ của không khí lên nhiệt độ định sẵn.
Hình 4.14. Thiết bị hút ẩm
Các máy hút ẩm thường được đặt trong các phòng yêu cầu đặc biệt hoô¼ctng các nhà kho chứa các sản phẩm đặc biệt.
d, kg/kgBIkJ/kgCϕ = 100%ABd = dC
Hình 4.15. Quá trình thay đổi trạng thái không khí ở máy hút ẩm
Quá trình thay đổi trạng thái của không khí diễn ra theo 2 giai đoạn: Quá trình làm lạnh làm khô AB ở dàn lạnh và quá trình gia nhiệt đẳng dung ẩm BC ở dàn ngưng (hình 4-15).
2.4.4 Làm khô bằng hóa chất.
Trong một số trường hợp nhất định người ta có thể sử dụng các hóa chất có khả năng hút ẩm tốt như: silicagen, vôi sống, zeolit để giảm ẩm cho không khí . Nhưng phương pháp này rất hạn chế vì khả năng hút ẩm rất hạn chế, các chất đó nhanh chóng bão hòa và thường tỏa nhiệt và ảnh hưởng nhất định đến không gian điều hòa.
Trên đồ thị I-d quá trình hút ẩm không khí bằng hoá chất diễn ra theo đường A9.

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Phần mềm tính toán tải lạnh Điều Hòa Không Khí - TRACE 700 v.6.2 (Seri number + thư viện thời tiết )

0 nhận xét
Trace 700 xây dựng các thuật toán rất mạnh dùng để tính toán tải lạnh (tải nóng) cho các công trình nhiệt lạnh và điều hòa không khí với các dữ liệu và thông số tính toán theo tiêu chuẩn ASHRAE. Hơn nữa Trace 700 còn cho phép người dùng tự định nghĩa các tham số hoặc hiệu chỉnh các thông số cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Giao diện Trace 700 đơn giản, trực quan và dễ sử dụng. Bằng việc tạo các bảng mẫu thông số (các template), Trace 700 còn giúp chúng ta tiết kiệm thời gian và công sức cho người dùng khi tính toán cho các công trình lớn, phức tạp.
Trace 700 cho phép người dùng xác định năng lượng tiêu hao cho hệ thống trong thời gian sử dụng với lịch làm việc được xác lập theo điều kiện hoạt động cụ thể của công trình.
Trace 700 chạy tốt trên nhiều phiên bản hệ điều hành Window.
Trace 700 cho phép người dùng nhập các chi phí năng lượng ( điện năng, dầu,…) củng như các chi phí đầu tư khác (thuế, bào trì,…) để tính toán chi phí đầu tư, vận hành và thời gian hoàn vốn của hệ thống.
Trace 700 chạy trên nên Windows, có thể tính toán suốt 8760 giờ trong năm hay rút gọn lại, có nhiều hệ thống phân phối gió, hệ thống thiết bị chính đã được xây dựng trước và có thể hiệu chỉnh lại theo yêu cầu người sử dụng, các thiết bị này có thể áp dụng cho mọi nhà sản xuất.
Công ty Trane tin rằng với chức năng của 1 nhà sản xuất chuyên dùng trong công nghiệp. Công ty Trane có nhiệm vụ cập nhật, thu thập và phổ biến rộng rãi các thông tin từ các phòng thí nghiệm, chương trình thử nghiệm, từ thực tế và các kinh nghiệm đúc kết được.
Các loạt tài liệu cơ bản về điều hòa không khí “The Trane Air Conditioning Clinic” là một trong các phương thức chia sẽ kiến thức của Trane.
Một số sản phẩm mà công ty Trane có thể đáp ứng cho nhu cầu công việc của bạn.
Trace 700 được đánh giá, kiểm chứng theo nhiều phương pháp.
- ASHRAE Standard 62.1-2004, dựa trên các mẫu của IEA BESTEST.
- Theo phương pháp hồi qui bằng cách sử dụng số lượng lớn các số liệu đã có sẵn và đưa vào phần mềm để kiểm tra.
- Tính toán bằng tay.
- Ngoài ra, ĐH IOWA và ARIZONA thực hiện so sánh kết quả tính toán của Trace 700 với số liệu đo đạt cụ thể từ thực tế trong suất 1 năm của 1 công trình thực tế.

Download: 

Trace 700 bản 6.2 Phan 1
Trace 700 bản 6.2 Phan 2

Download 2 bản này về rồi dùng phần mềm HJSplit  nối file lại
Sau đó cài đặt bình thường .
Bản này có đầy đủ thư viện thời tiết cho 5 thành phố lớn của VN và hướng dẫn cách nhập vào phần mềm .
Serial PCPR-7AB-2GY9

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

Những hư hỏng thướng gặp của máy lạnh

0 nhận xét
Trong cuộc sống, con người cũng có lúc ốm lúc đau. Chiếc máy lạnh cũng vậy, cũng có lúc nó gặp các sự cố cho dù là nhỏ hay lớn thì nó vẫn đem lại cho chúng ta một cái cảm giác không yên tâm và không an toàn với thiết bị tiện nghi này.
Do đó, ở bài viết này chúng tôi cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản nhất để xác định các nguyên nhân và hiện tượng khi máy điều hòa không khí bị sự cố và các cách khắc phụ cơ bản để khác hàng có thể từ đó có biện pháp cụ thể để triển khai nhằm khắc phục được phần nào hay tối đa sự cố.

1. Máy bị thiếu gas, hết gas
Máy ĐHKK là một hệ thống kín và gas lạnh bên trong máy là loại hóa chất rất bền không bị phân hủy trong điều kiện hoạt động của máy nên không có hiện tượng hao hụt gas. Máy chỉ thiếu gas, hết gas trong trường hợp bị rò rỉ, xì trên đường ống, tại các van, các chỗ đấu nối ống bằng rắc-co…hay trong quá trình lắp mới người lắp đặt không kiểm tra và nạp đủ gas.
Khi máy bị thiếu gas hoặc hết gas sẽ có một số hiện tượng sau :
1. Nếu bị xì hết gas máy không lạnh. Nếu bị thiếu gas máy kém lạnh.

2. Có hiện tượng bám tuyết ngay van ống nhỏ của dàn nóng.
3.  Dòng điện hoạt động thấp hơn dòng định mức ghi trên máy.
4. Áp suất gas hút về máy nén thấp hơn áp làm việc bình thường (bình thường từ 65-75psi). Áp suất phía cao áp cũng thấp hơn bình thường.
5.  Trong một số máy ĐHKK, khi bị thiếu gas board điều khiển sẽ tự động tắt máy sau khoảng 5-10 phút và báo lỗi trên dàn lạnh.
2. Máy nén không chạy
Máy nén (Block) được xem là trái tim của máy ĐHKK, khi máy nén không chạy  thì máy ĐHKK không lạnh. Một số nguyên nhân làm máy nén không chạy :
1. Mất nguồn cấp đến máy nén : do lỗ do board điều khiển, contactor không đóng, hở mạch.
2. Nhảy thermic bảo vệ máy nén : thường do hư tụ, quạt dàn nóng yếu hoặc hư, motor máy nén không quay.

3. Cháy một trong các cuộn dây động cơ bên trong, trường hợp này có thể dẫn tới nhảy CB nguồn.

3. Máy nén chạy ồn:

Khi máy lạnh của bạn bị hiện tượng này thì bạn thường nghe được tiếng ồn phát ra từ phía giàn nóng, tức là từ phía cục nóng thường đặt ngoài trời.

a. Nguyên nhân:
1. Dư gas.

2. Có chi tiết bên trong máy nén bị hư.
3. Có các bulong hay đinh vít bị lỏng
4. Chưa tháo các tấm vận chuyển
5. Có sự tiếp xúc của 1 ống này với ống khác hoặc vỏ máy
b. PP KT sữa chữa:
1. Rút bớt lượng gas đã sạc bằng cách xả ga ra môi trường bằng khóa lục giác. Vị trí xả ra ngay tại đầu côn phía cuối của giàn nóng - cục nóng.
2. Thay máy nén bằng cách đi mua máy nén đúng mã số, thương hiệu, đúng công suất và thay thế hoặc nhờ tới chuyên viên thay thế.
3. Vặn chặt các bulông hay vis, kiểm tra xem máy nén có đúng với tình trạng như ban đầu hay không nhé.
4. Tháo các tấm vận chuyển nhằm để cho hệ máy đỡ va chạm và gây kêu.
5. Nắn thẳng hay cố định ống sao cho không tiếp xúc với ống hoặc các chi tiết kim loại khác. Kiểm tra xem mặt đế đặt máy nén có bị xiên, lũng hay bị cong làm cho máy nén bị xiên và đụng với thành của võ giàn nóng - cục nóng và gây nên kêu. Kiểm tra xem các buloong phía dưới đáy máy nén xem có lỏng hay không. Nếu lõng thì xiết vừa phải nhé. Không được xiết chặt các buloong đó nhé.
2. Quá lạnh:
a. Nguyên nhân:
1. Bộ điều khiển nhiệt độ (thermostat) bị hư.
2. Chỉnh nhiệt độ xuống quá thấp so với nhu cầu sử dụng.
b. PP KT sữa chữa:
1. Kiểm tra thông mạch của bộ điều khiển nhiệt độ và dây dẫn.
2. Sét lại nhiệt độ cho phù hợp.

3. Máy chạy liên tục nhưng không đủ lạnh.

a. Nguyên nhân:
1. Thiếu gas.
2. Đường ống gas lỏng bị cản trở hoặc nghẹt.
3. Lọc gió bị dơ.
4. Dàn lạnh bị dơ.
5. Không đủ không khí đi qua dàn lạnh.
6. Dàn ngưng tụ bị dơ hay bị nghẹt một phần.
7. Có không khí hay khí không ngưng trong máy lạnh.
8. Không khí giải nhiệt không tuần hoàn.
9. Máy nén hoạt động không hiệu quả.
10. Tải quá nặng.
11.
b. PP KT sữa chữa:
1. Thử xì, đo Gas, xạc Gas, kiểm tra P ht , xả…
2. Thay thế chi tiết cản trở
3. Làm sạch hay thay
4. Làm sạch
5. Kiểm tra quạt
6. Bảo trì dàn nóng
7. Rút gas hút chân không và sạc gas mới
8. Tháo dỡ các vật cản dòng không khí giải nhiệt
9. Kiểm tra hiệu suất máy nén
10. Kiểm tra tải
4. Ap suất hút thấp.
a. Nguyên nhân:
1. Thiếu gas
2. Đường ống gas lỏng bị cản trở hoặc nghẹt
3. Lọc gió bị dơ
4. Dàn lạnh bị dơ
5. Không đủ không khí đi qua dàn lạnh
6. Van tiết lưu bị nghẹt
7. Van tiết lưu hay ống mao bị nghẹt hoàn toàn
8. Bầu cảm biến của van tiết lưu bị xì
b. PP KT sữa chữa:
1. Thử xì
2. Thay thế chi tiết cản trở
3. Làm sạch hay thay
4. Làm sạch
5. Kiểm tra quạt
6. Thay valve
7. Thay valve hoặc ống mao
8. Thay valve
5. Áp suất hút cao.
a. Nguyên nhân:
1. Dư gas
2. Máy nén hoạt động không hiệu quả
3. Vị trí lắp cảm biến không đúng
4. Tải quá nặng
b. PP KT sữa chữa:
1. Rút bớt lượng gas đã sạc
2. Kiểm tra hiệu suất máy nén
3. Đổi vị trí lắp cảm biến
4. Kiểm tra tải
6. Áp suất nén thấp.
a. Nguyên nhân:
1. Thiếu gas
2. Máy nén hoạt động không hiệu quả
b. PP KT sữa chữa:
1. Thử xì
2. Kiểm tra hiệu suất máy nén
7. Áp suất nén cao.
a. Nguyên nhân:
1. Dư gas
2. Dàn ngưng tụ bị dơ hay bị nghẹt một phần
3. Có không khí hay khí không ngưng trong máy lạnh
4. Không khí giải nhiệt không tuần hoàn
5. Nhiệt độ của không khí hoặc nước giải nhiệt cao
6. Thiếu không khí hoặc nước giải nhiệt
b. PP KT sữa chữa:
1. Rút bớt lượng gas đã sạc
2. Bảo trì dàn nóng
3. Rút gas hút chân không và sạc gas mới
4. Tháo dỡ các vật cản dòng không khí giải nhiệt
5. Cưa máy nén ra kiểm tra, sửa chữa, thay thế.
6. Kiểm tra v tăng quá trình giải nhiệt ln.
8. Máy nén chạy và dừng liên tục do quá tải.
a. Nguyên nhân:
1. Cuộn dây contactor máy nén bị hư
2. Điện thế thấp
3. Thiếu gas
4. Dư gas
5. Dàn ngưng tụ bị dơ hay bị nghẹt một phần
b. PP KT sữa chữa:
1. Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
2. Kiểm tra điện thế
3. Thử xì
4. Rút bớt lượng gas đã sạc
5. Bảo trì dàn nóng
9. Máy chạy và ngưng liên tục.
a. Nguyên nhân:
1. Cuộn dây contactor máy nén bị hư
2. Điện thế thấp
3. Thiếu gas
4. Đường ống gas lỏng bị cản trở hoặc nghẹt
5. Dư gas
6. Dàn ngưng tụ bị dơ hay bị nghẹt một phần
7. Van tiết lưu hay ống mao bị nghẹt hoàn toàn
8. Bầu cảm biến của van tiết lưu bị xì
b. PP KT sữa chữa:
1. Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
2. Kiểm tra điện thế
3. Thử xì
4. Thay thế chi tiết cản trở
5. Rút bớt lượng gas đã sạc
6. Bảo trì dàn nóng
7. Thay valve hoặc ống mao
8. Thay valve
10. Quạt dàn nóng không chạy.
a. Nguyên nhân:
1. Ngắn mạch hay đứt dây
2. Bộ điều khiển nhiệt độ (thermostat) bị hư
3. Tụ điện bị hư hay ngắn mạch
4. Cuộn dây contactor quạt bị hư
5. Động cơ quạt bị ngắn mạch hay chạm vỏ
b. PP KT sữa chữa:
1. Kiểm tra mạch điện bằng đồng hồ
2. Kiểm tra thông mạch của bộ điều khiển nhiệt độ và dây dẫn
3. Kiểm tra tụ điện bằng đồng hồ
4. Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
5. Kiểm tra độ cách điện bằng đồng hồ
11. Quạt dàn lạnh không chạy.
a. Nguyên nhân:
1. Ngắn mạch hay đứt dây
2. Tụ điện bị hư hay ngắn mạch
3. Cuộn dây contactor quạt bị hư
4. Động cơ quạt bị ngắn mạch hay chạm vỏ
b. PP KT sữa chữa:
1. Kiểm tra mạch điện bằng đồng hồ
2. Kiểm tra tụ điện bằng đồng hồ
3. Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
4. Kiểm tra độ cách điện bằng đồng hồ
12. Máy nén và quạt dàn ngưng không chạy.
a. Nguyên nhân:
1. Ngắn mạch hay đứt dây
2. Bộ điều khiển nhiệt độ (thermostat) bị hư
3. Cuộn dây contactor máy nén bị hư
b. PP KT sữa chữa:
1. Kiểm tra mạch điện bằng đồng hồ
2. Kiểm tra thông mạch của bộ điều khiển nhiệt độ và dây dẫn
3. Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
13. Máy nén không chạy, quạt chạy.
a. Nguyên nhân:
1. Ngắn mạch hay đứt dây
2. Bộ điều khiển nhiệt độ (thermostat) bị hư
3. Tụ điện bị hư hay ngắn mạch
4. Cuộn dây contactor máy nén bị hư
5. Máy nén bị ngắn mạch hay chạm vỏ
6. Máy nén bị kẹt
b. PP KT sữa chữa:
1. Kiểm tra mạch điện bằng đồng hồ
2. Kiểm tra thông mạch của bộ điều khiển nhiệt độ và dây dẫn
3. Kiểm tra tụ điện bằng đồng hồ
4. Kiểm tra thông mạch của coil và các tiếp điểm
5. Kiểm tra độ cách điện bằng đồng hồ
6. Cưa my nn ra kiểm tra, sửa chữa, thay thế.
14. Máy không chạy.
a. Nguyên nhân:
1. Không có điện nguồn
2. Đứt cầu chì hoặc vasitor
3. Lỏng mối nối điện
4. Ngắn mạch hay đứt dây
5. Thiết bị an toàn mở
6. Biến thế bị hư
b. PP KT sữa chữa:
1. Kiểm tra điện thế
2. Kiểm tra cỡ và loại cầu chì
3. Kiểm tra mối nối điện – xiết chặt lại
4. Kiểm tra mạch điện bằng đồng hồ
5. Kiểm tra thông mạch của thiết bị bảo vệ
6. Kiểm tra mạch điều khiển bằng đồng hồ
(đang cập nhật...)

NamcaoBk

Tìm kiếm thông tin